indexNhân bàn về bài viết của Paul Craig Roberts về nhà kinh tế dầy kinh nghiệm thực tế và thực tiễn chân thật Michael Hudson, Why Michael Hudson is the World’s Best Economist Chúng tôi cần minh định một vài quan điểm của trang Phi Quyền Chính trước khi vào đề chính về “KINH TẾ.”

Cho đến nay, với biết bao biến chuyển trên thế giới, nhất là tình hình khu vực Trung đông, tuy nhiên chúng tôi, trang Phi Quyền Chính đã cố gắng tự  giới hạn tối đa “bàn về “chiến sự, chính sách thủ đoạn chiến thuật v.v” trừ khi đó là một bản tin hoặc nhận định mang chức năng vạch trần những gian trá thông tin của chuyên gia báo chí chính qui và loa đài chính phủ.

Trang Phi Quyền Chính như đã minh chứng từ trang Duy Việt-Nhân Chủ, có dư khả năng làm  trò “chuyên gia chính trị quân sự” như bao nhiêu các “thầy bói” chính sự khác để thỏa mãn độc giả những loại độc giả thích làm “chuyên gia thời cuộc” trong bàn nhậu, bàn cà phê v.v  với nào là “chính trị địa lý khu vực”, phân tích khen chê … đoán mò những quân sự chiến lược, chiến thuật, chiến cảnh, các loại vũ khí tương quan mọi bên mọi phía, rồi phán ra những  bình nghị “cao thấp” từ căn bản sách lược cổ điển đến thuyết “đấu trí” (game theory) v.v  Chúng tôi, Phi Quyền Chính không tham gia trò chơi bất nhân này-  Chúng tôi KHÔNG CÓ NHU CẦU CHIỀU THỊ HIẾU QUẦN CHÚNG để “có nhiều độc giả”.

Thứ nhất Chúng Tôi, từ cái tên trang Duy Việt, Nhân Chủ, đến Phi Quyền Chính luôn luôn tự bản nhiên và chủ đích rất kén chọn độc giả, Trang nói đến những gì “người ta” không dám, không thể, và không có khả năng nói đến. Đặc tính “khiêm nhượng và tự tin” này khiến những quí anh chị từng là thân hữu của Duy Việt, Nhân Chủ, và nay Phi Quyền Chính luôn là cái “gai” trước mắt những tín đồ chính qui chính thống của tôn giáo và nhà nước. Đây là điều tất yếu và bình thường như tất cả những trang độc lập khác như Paul Craig Roberts, Corbett Report, Global Research, Counter Punch v.v đều là cái “gai” của chính qui chính thống và đám “thiên hạ” trong cõi người ta. Chẳng gao giờ là ngoại lệ!

Kế đến, quan trọng hơn, chúng tôi không chơi trò “chuyên gia thời cuộc” vì bản chất trò chơi này nó bất nhân-  Vì chúng tôi, cũng như bất cứ ai còn nhân tâm và hiểu biết, đều nắm chắc hệ quả của những trò chơi dơ bẩn này 100%- Nắm chắc 100% chứ  không phải đoán mò. Mục tiêu của Phi Quyền Chính – là chủ trương PHƠI BÀY với chứng cớ về cái Hệ quả 100% này.

QUAN TÂM HỆ QUẢ và PHƠI BÀY BẢN CHẤT của CÁI GỌI LÀ CHIẾN LƯỢC CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ KINH TẾ

Hệ quả 100% mà chẳng có tên thầy rùa chính trị quân sự nào nói thẳng, nói rõ với dân chúng- đó là CHÍNH NGƯỜI DÂN bất kể thuộc phe nào, là những người phải trả giá đắt nhất cho những toan tính “cao vời vợi” của những “thiên tài chính trị quân sự kinh tế” đó!

Một cái gật đầu, một chữ ký, một thỏa hiệp thay đổi v.v của các “lãnh đạo” của các chuyên gia cố vấn v.v  TẤT CẢ sẽ có một kết quả chung-  là sinh mạng người dân, tài sản nhà cửa, và hàng loạt trẻ em bị thảm tử, mất cha, mất mẹ, mất anh, mất em!

Chúng ta được thông báo những bước chiến lược, chiến thuật, các loại vũ khí tân kỳ, chi tiết các trận đánh… Nhưng có đứa nào thông báo chi tiết cho chúng ta đã có bao nhiêu dân chúng phụ nữ trẻ em thảm tử trong những trận chiến đó?  Có ai thông báo cho chúng ta chi tiết họ đã chết như thế nào và hiện nếu sống sót, đang sống ra sao?

Chưa kể ngay chính những kẻ ngu xuẩn hăm hở, hoặc hèn nhát không dám cưỡng chống lệnh lạc bạo ngược bất nhân- cắm đầu tham gia quân đội, và gia đình của những loại xuẩn ngốc này, không nhận ra rằng cứ nhất cử nhất động của các “thiên tài chính trị”-  “lãnh đạo quốc gia” ra đòn, ra chiêu ăn miếng trả miếng với nhau trong “trò chơi đấu trí”, thì họ là những kẻ chuẩn bị mất mạng, gia đình họ chuẩn bị mất chồng, mất vợ, mất cha, mất mẹ, mất con, mất bạn bè, sống sót thì tật nguyền, nhân tâm vỡ nát… và xã hội mất mát tài nguyên năng lực…xác chết thân nhân sẽ nuối đuôi nhau gửi về gia đình!

Họ có nhận ra rằng hành động Phản CHIẾN, không chỉ là HÀNH ĐỘNG TỰ VỆ CHÍNH ĐÁNG và DŨNG CẢM của cá nhân chống lại sự áp đặt lạm dụng sinh mạng và sự sống của con người, mà  chính là tính “vạn vật hiếu sinh” của nhân bản – nó khởi đi từ sự thông minh và can đảm thật sự, chứ không phải loại võ biền ngu tối cắm đầu đi chết, đi sát nhân, mù quáng cho quyền lực và tín lý hư cấu mà gọi là “can đảm?”

Butler.GChelsea Manning, Edward Snowden v.v mới thật sự là THÔNG MINH và CAN ĐẢM. Những tên lính càng lắm huy chương càng ngu xuẩn và càng bán khai bất nhân, và chỉ là những tên sát nhân tồi bại. Cựu tướng Mỹ Smedley Butler là người đã công khai khẳng định điều này, và Ông đã trờ thành người CAN ĐẢM không phải vì từng ra vào chiến trận đẫm máu một cách ngu xuẩn làm tay sai đánh thuê như ông thú nhận, mà là dám can đảm công khai nói về cái sai lầm của mình, và đứng lên PHẢN CHIẾN-hôm nay người ta nhắc đến ông vì lòng can đảm thật sự này với bài diển thuyết bất tử:  War Is A Racket, by Major General Smedley Butler, 1935 (Anh Minh Triết đã dịch ra tiếng Việt- tham khảo phụ bản phía cuối bài )

Trong thật nhiều năm, với tư cách một người lính, tôi đã hoài nghi chiến tranh là một trò làm tiền gian manh: chỉ cho tới khi tôi lui về hưu với đời sống dân sự, tôi mới thật sự nhận thức ra hiểu nó trọn vẹn. Và bây giờ khi tôi thấy những đám mây chiến tranh thế giới (thế chiến thứ 2) tụ lại, như hôm hay, tôi phải đối mặt với nó và lên tiếng cảnh báo.(For a great many years, as a soldier, I had a suspicion that war was a racket; not until I retired to civil life did I fully realize it. Now that I see the international war clouds gathering, as they are today, I must face it and speak out)

Và hệ quả kinh khiếp 100% chính là địa cầu này mất thêm cơ hội tái lập nền HÒA BÌNH, và nền  TỰ DO, Hạnh phúc của con người thêm tan vỡ …. và cả nhân loại này MẤT THÊM PHẦN NHÂN TÍNH!

Trong lãnh vực gọi là “kinh tế” chuyên nghiệp cũng không khác. Những tên xưng danh “nhà kinh tế” “chuyên gia kinh tế, đã tận dụng và tạo dựng ngôn ngữ phù thủy để bịp dân, để chính đáng hóa cho những gian manh trộm cắp công sức và cuộc đời và lao động con người của bọn quyền lực.

sasTheo ông Paul Craig Roberts, một chuyên gia kinh tế thứ thiệt, trong những thập niên của hiện tại, thì có lẽ chỉ có Michael Hudson, người từng làm việc nghiên cứu chính sách cho đám tập đoàn ngân hàng tài chính và IMF, World Bank, mới thật sự là một nhà kinh tế đúng nghĩa. Kinh tế đúng nghĩa theo mục tiêu TÌM GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHỤC VỤ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI, TẠO CỦA CẢI, HẠNH PHÚC và TỰ DO TƯƠNG TÁC SÁNG TẠO CỦA CẢI DỊCH VỤ (ECONOMIC OBJECTIVES- FREE MARKET).

Nhưng cái định nghĩa với tiêu chí của ngành kinh tế như vậy chưa bao giờ hiện hữu. Kinh Tế học, lý thuyết kinh tế đã trở thành những thủ đoạn lừa đảo, mưu toan cho nhóm đặc quyền lợi và quyền lực khống trị. Đây không phải là NHẬN ĐỊNH và KẾT LUẬN của riêng Phi Quyền Chính (đã từng viết qua một số bài nơi trang Nhân Chủ)- cũng không phải là một nhận định theo tính lý thuyết hay cảm tính ý thức hệ- mà nó là nhận định chung từ đúc kết của thực trạng, chứng cớ của nghiên cứu- và nó được đúc kết từ chính những chuyên gia kinh nghiệm thực tiễn với định chế, những giáo sư kinh tế không chỉ trong khoa bảng mà từng thực tiễn nắm quyền “kinh tế chính qui” như Bill Black, Paul Craig Roberts, Michael Hudson, David Stockman,  v.v (Hudson learned that economic theory is really a device for ripping off the untermenschen)

Như Phi Quyền Chính đã theo dõi các bài phân tích của Michael Hudson, nhất là những bài diễn văn thuyết trình tại Ý về bản chất thật sự của tài chính và cái gọi là “tiền”Our Very Own Oscar Night in Rimini | Michael Hudson Chúng tôi phải thừa nhận ông Paul Craig Roberts nói không quá lời. Dù Phi Quyền Chính, như một nguyên lý, không đồng ý với giải pháp đặt trên nên tảng định chế nhà nước chính phủ của nhóm MMT- Michael Hudson. Nhưng đồng thuận rằng, trong tình trạng chưa hủy bõ được định chế Nhà nước chính phủ, nhất là định chế ngân hàng quốc gia- thì giải pháp của MMT là chân thật và đúng đắn nhất với chức năng THẬT của tờ tiền GIẤY của chính phủ, in ra từ cõi “hư vô” (fiat money)-

-Nôm na, ĐƠN GIẢN HÓA để hiểu là Nhà Nước- TIỀN in ra không cần vốn, thì không cần TIỀN LỜI (LÃI XUẤT). Và mục tiêu của TIỀN là phương tiện trao đổi để kích thích trao đổi kinh tế thuận tiện- phát huy sáng tạo sản xuất của cải và dịch vụ cho xã hội- Cho nên với chức năng độc quyền của Nhà nước IN ẤN RA NÓ- thì nó phải được cho VAY MƯỢN đến dân chúng – những người đầu tư sản xuất nghiên cứu TRỰC TIẾP – KHÔNG LÃI XUẤT – không cần qua hệ thống tài chính tư nhân- chỉ  khiến mất thời gian và tạo “lãi xuất” phi lý-  làm cản trở sản xuất sáng tạo thật sự, và gây ra lạm phát- Nó chỉ có lợi cho đám tư nhân trung gian ăn không ngồi chốc thao túng đồng tiền và lãi xuất tùy tiện như đang thấy nhãn tiền với hệ thống NGÂN HÀNG TÀI  CHÍNH TƯ NHÂN LÀM TRUNG GIAN vay mượn KHÔNG hoặc LÃI XUẤT THẤP trực tiếp từ NHà NƯỚC và CHO  QUẦN CHÚNG VAY lại – ĐẦU TƯ với LÃI XUẤT CAO! …  Và rằng sự kiện nhà nước luôn luôn hủy tiền và có nhiều cách hủy tiền để cân bằng lạm phát (chênh lệch thặng dư giữa số lượng tiền tệ lưu hành và sản phẩm dịch vụ thật sự luân chuyển tiêu thụ trong thị trường)- Nói một cách khác ngay cả THUẾ TỔNG QUÁT cũng không cần thiết! Thuế chỉ là một thủ thuật lừa bịp ăn cắp và khống trị! (đã được trình bày trong những mảng bài trước đây trong Nhân Chủ)

Quả thật Michael Hudson khác với các kẻ “kinh tế” khác, là diễn giải trưng bày sự việc là chính nó- với những dữ kiện và tác động cụ thể kiểm chứng được qua các cuộc nghiên cứu với số liệu và đời sống thực tế- lý thuyết chỉ được kể đến khi lý thuyết có khả năng nối kết với sự kiện thực tại- và dùng ngôn ngữ đơn giản nhất để trong sáng vấn đề. Phức tạp hóa chỉ dùng để tung hỏa mù cho mục tiêu lừa bịp (Occam’s razor)

Quân Sự, Chính Trị, Kinh tế, Tôn Giáo v.v chẳng khác gì nhau: Lý Thuyết của chúng chỉ là những dụng cụ lừa bịp, hủy hoại nhân tính và khống trị con người, chúng chẳng cưu mang hữu ích đến hạnh phúc tự do hay có nỗ lực nối kết nhân loại gần gũi đùm bọc quan tâm san sẻ với nhau như chúng rêu rao trên lý thuyết!

Khi chúng ta hăm hở NGHỊ SỰ về những chiến thuật, chiến lược, vũ khí tân kỳ, chính sách nhà nước v.v Việc đầu tiên cần nhận thức là CHÍNH CHÚNG TA, sinh mạng và tài sản, hạnh phúc và an nguy của chúng ta, là thành tố nền tảng   TRẢ GIÁ CAO NHẤT cho những chiến lược, chính sách “thiên tài” này. Chúng ta bị sử dụng vô danh như những con cờ thí vô tri vô giác và tùy tiện.

Tùy mỗi quí vị vậy!

Phi Quyền Chính

(TB: Do giới hạn thời gian và tài nguyên- Chúng tôi làm việc bằng tất cả những gì chúng tôi có- không chủ trương nhận bất kỳ ủng hộ tài chính nào như các trang độc lập khác- cho nên chưa thể có khả năng chuyển dịch các bài viết trong nguồn tham khảo dẫn chứng và đọc thêm đến tất cả độc giả đậu phọng đỏ có nỗ lực tự lột vỏ đậu phọng để thành Người! Điều này khiến nhiều độc giả đã buộc phải ngớ ngẩn dùng bản dịch Google, một loại “dịch tả dịch hạch”, không chỉ dịch sai, ngây ngô, mà còn dịch ngược đen ra trắng, trắng ra đen, khiến ngay cả việc lấy một vài ý để có thể đoán đại ý toàn bài cũng không thể dùng được – và chắc chắn tạo nguy hiểm cho kiến thức người đọc.  Trang Phi Quyền Chính cảnh báo nguy hiểm này và đề nghị quí vị chưa có khả năng Anh ngữ nên HỌC và TRAU DỒI ANH NGỮ-  Và nhất là những quí vị độc giả có khả năng Anh ngữ xin cố gắng dùng thời gian gom ý hoặc cùng đọc chung với các thân hữu để giúp nhau phá bước tường thông tin chính qui, và giúp nhau tiến bộ.- Khi quí vị thật sự LÀM VIỆC- dù ít hay nhiều, nhỏ hay lớn, quí vị sẽ có cơ hội THÂM CẢM với những con người đang làm việc không công miệt mài bằng tài sản thời gian tư riêng của họ… và nhất là sẽ thấy niềm hạnh phúc với ý nghĩa của đời sống nhân loại- và đồng loại- cái  động cơ đã thúc đẩy những hành xử vô vị lợi can trường của những người như Sarah Harrison, Edwarsd Snowden, Jullian Assange, Chelsea Manning, Thomas Brake, Paul Craig Roberts, Arthur Koestler v.v- Động cơ thúc đẩy từ TƯ LỢI và QUYỀN BÍNH chỉ dành cho những loài vật chưa thành người- hay những nhân cách thấp hèn chỉ biết liếm bộ lông của mình)

 

Why Michael Hudson is the World’s Best Economist

 

Michael Hudson is the best economist in the world. Indeed, I could almost say that he is the only economist in the world. Almost all of the rest are neoliberals, who are not economists but shills for financial interests.

If you have not heard of Michael Hudson it merely shows the power of the Matrix. Hudson should have won several Nobel prizes in economics, but he will never get one.

Hudson did not intend to be an economist. At the University of Chicago, which had a leading economics faculty, Hudson studied music and cultural history. He went to New York City to work in publishing. He thought he could set out on his own when he was assigned rights to the writings and archives of George Lukacs and Leon Trotsky, but publishing houses were not interested in the work of two Jewish Marxists who had a significant impact on the 20th century.

Friendships connected Hudson to a former economist for General Electric who taught him the flow of funds through the economic system and explained how crises develop when debt outgrows the economy. Hooked, Hudson enrolled in the economics graduate program at NYU and took a job in the financial sector calculating how savings were recycled into new mortgage loans.

Hudson learned more economics from his work experience than from his Ph.D. courses. On Wall Street he learned how bank lending inflates land prices and, thereby, interest payments to the financial sector. The more banks lend, the higher real estate prices rise, thus encouraging more bank lending. As mortgage debt service rises, more of household income and more of the rental value of real estate are paid to the financial sector. When the imbalance becomes too large, the bubble bursts. Despite its importance, theanalysis of land rent and property valuation was not part of his Ph.D. studies in economics.

Hudson’s next job was with Chase Manhattan, where he used the export earnings of South American countries to calculate how much debt service the countries could afford to pay to US banks. Hudson learned that just as mortgage lenders 2KillingTheHost_Cover_ruleregard the rental income from property as a flow of money that can be diverted to interest payments, international banks regard the export earnings of foreign countries as revenues that can be used to pay interest on foreign loans. Hudson learned that the goal of creditors is to capture the entire economic surplus of a country into payments of debt service.

Soon the American creditors and the IMF were lending indebted countries money with which to pay interest. This caused the countries’ foreign debts to rise at compound interest. Hudson predicted that the indebted countries would not be able to pay their debts, an unwelcome prediction that was confirmed when Mexico announced it could not pay. This crisis was resolved with “Brady bonds” named after the US Treasury Secretary, but when the 2008 US mortgage crisis hit, just as Hudson predicted, nothing was done for the American homeowners. If you are not a mega-bank, your problems are not a focus of US economic policy.

Chase Manhattan next had Hudson develop an accounting format to analyze the US oil industry balance of payments. Here Hudson learned another lesson about the difference between official statistics and reality. Using “transfer pricing,” oil companies managed to avoid paying taxes by creating the illusion of zero profits. Oil company affiliates in tax avoidance locations buy oil at low prices from producers. From these flags of convenience locations, which have no tax on profits, the oil was then sold to Western refineries at prices marked up to eliminate profits. The profits were recorded by the oil companies’ affiliates in non-tax jurisdictions. (Tax authorities have cracked down to some extent on the use of transfer pricing to escape taxation.)

Hudson’s next task was to estimate the amount of money from crime going into Switzerland’s secret banking system. In this investigation, his last for Chase, Hudson discovered that under US State Department direction Chase and other large banks had established banks in the Caribbean for the purpose of attracting money into dollar holdings from drug dealers in order to support the dollar (by raising the demand for dollars by criminals) in order to balance or offset Washington’s foreign military outflows of dollars. If dollars flowed out of the US, but demand did not rise to absorb the larger supply of dollars, the dollar’s exchange rate would fall, thus threatenting the basis of US power. By providing offshore banks in which criminals could deposit illicit dollars, the US government supported the dollar’s exchange value.

Hudson discovered that the US balance of payments deficit, a source of pressure on the value of the US dollar, was entirely military in character. The US Treasury and State Department supported the Caribbean safe haven for illegal profits in order to offset the negative impact on the US balance of payments of US military operations abroad. In other words, if criminality can be used in support of the US dollar, the US government is all for criminality.

When it came to the economics of the situation, economic theory had not a clue. Neither trade flows nor direct investments were important in determining exchange rates. What was important was “errors and omissions,” which Hudson discovered was an euphemism for the hot, liquid money of drug dealers and government officials embezzling the export earnings of their countries.

The problem for Americans is that both political parties regard the needs of the American people as a liability and as an obstacle to the profits of the military/security complex, Wall Street and the mega-banks, and Washington’s world hegemony. The government in Washington represents powerful interest groups, not American citizens. This is why the21st century consists of an attack on the constitutional protections of citizens so that citizens can be moved out of the way of the needs of the Empire and its beneficiaries.

Hudson learned that economic theory is really a device for ripping off the untermenschen. International trade theory concludes that countries can service huge debts simply by lowering domestic wages in order to pay creditors. This is the policy currently being applied to Greece today, and it has been the basis of the IMF’s structural adjustment or austerity programs imposed on debtor countries, essentially a form of looting that turns over national resources to foreign lenders.

Hudson learned that monetary theory concerns itself only with wages and consumer prices, not with the inflation of asset pricessuch as real estate and stocks. He saw that economic theory serves as a cover for the polarization of the world economy between rich and poor. The promises of globalism are a myth. Even left-wing and Marxist economists think of exploitation in terms of wages and are unaware that the main instrument of exploitation is the financial system’s extraction of value into interest payments.

Economic theory’s neglect of debt as an instrument of exploitation caused Hudson to look into the history of how earlier civilizations handled the build up of debt. His research was so ground-breaking that Harvard University appointed him Research Fellow in Babylonian economic history in the Peabody Museum.

Meanwhile he continued to be sought after by financial firms. He was hired to calculate the number of years that Argentina, Brazil, and Mexico would be able to pay the extremely high interest rates on their bonds. On the basis of Hudson’s work, the Scudder Fund achieved the second highest rate of return in the world in 1990.

Hudson’s investigations into the problems of our time took him through the history of economic thought. He discovered that 18th and 19th century economists understood the disabling power of debt far better than today’s neoliberal economists who essentially neglect it in order to better cater to the interest of the financial sector.

Hudson shows that Western economies have been financialized in a predatory way that sacrifices the public interest to theinterests of the financial sector. That is why the economy no longer works for ordinary people. Finance is no longer productive. It has become a parasite on the economy. Hudson tells this story in his recent book, Killing the Host (2015).

Readers often ask me how they can learn economics. My answer is to spend many hours with Hudson’s book. First, read the book through once or twice in order to get an idea of what is covered. Then study it closely section by section. When you understand the book, you will understand economics better than any Nobel prize-winning economist.

Treat this column as an introduction to the book. I will be writing more about it as current events and time permit. As far as I am concerned, many current events cannot be understood independently of Hudson’s explanation of the financialized Western economy. Indeed, as most Russian and Chinese economists are themselves trained in neoliberal economics, these two countries might follow the same downward path as the West.

If you put Hudson’s analysis of financialization together with my analysis of the adverse impact of jobs offshoring, you will understand that the present economic path of the Western world is the road to destruction.

 

Paul Craig Roberts is a former Assistant Secretary of the US Treasury and Associate Editor of the Wall Street Journal. Roberts’ How the Economy Was Lost is now available from CounterPunch in electronic format. His latest book is The Neoconservative Threat to World Order.

==

Our Very Own Oscar Night in Rimini

By , , , Permalink

2,181 Italians pack a Sports Arena to learn Modern Monetary Theory:
The Economy doesn’t Need to suffer Neoliberal Austerity

I have just returned from Rimini, Italy, where I experienced one of the most amazing spectacles of my academic life. Four of us associated with the University of Missouri at Kansas City (UMKC) were invited to lecture for three days on Modern Monetary Theory (MMT) and explain why Europe is in such monetary trouble today – and to show that there is an alternative, that the enforced austerity for the 99% and vast wealth grab by the 1% is not a force of nature.

Stephanie Kelton (incoming UMKC Economics Dept. chair and editor of its economic blog, New Economic Perspectives), criminologist and law professor Bill Black, investment banker Marshall Auerback and me (along with a French economist, Alain Parquez) stepped into the basketball auditorium on Friday night. We walked down, and down, and further down the central aisle, past a packed audience reported as over 2,100. It was like entering the Oscars as People called out our first names. Some told us they had read all of our economics blogs. Stephanie joked that now she understood how the Beatles felt. There was prolonged applause – all for an intellectual rather than a physical sporting event.

With one difference, of course: Our adversaries were not there. There was much press, but the prevailing Euro-technocrats (the bank lobbyists who determine European economic policy) hoped that the less discussion of possible alternatives to austerity, the easier it would be to force their brutal financial grab through.

All the audience members had contributed to raise the funds to fly us over from the United States (and from France for Alain), and treat us to Federico Fellini’s Grand Hotel on the Rimini beach. The conference was organized by reporter Paolo Barnard, who had studied MMT with Randall Wray and realized that there was plenty of demand in Italian mass culture for a discussion of what actually was determining the living conditions of Europe. His aim was to show that the emerging financial elite hopes to use this crisis as their opportunity to carve out personal fiefdoms by privatizing the public domain of the governments they have seduced, bribed or coerced into unnecessary debt. Instead of using a central bank to finance their deficits, governments are told to dump these assets under distress conditions at fire sale prices. So governments end up beholden to bondholders and Eurocrats drawn from neoliberal ranks.

Paolo and his enormous support staff of translators and interns provided us an opportunity to give an approach to monetary and tax theory and policy that until recently was almost unheard of in the United States. Just one week earlier the Washington Post published a review of MMT, followed by a long discussion in the Financial Times. But the theory remains grounded primarily at the UMKC’s economics department and the Levy Institute at Bard College, with which most of us are associated.

The basic thrust of our argument is that just as commercial banks now create credit electronically on their computer keyboards (creating a bank account credit for borrowers in exchange for their signing an IOU at interest), so governments can create their own money. They can reclaim this proper function without incurring needless interest-bearing debt to private bondholders or from banks that create credit by electronic fiat. Government computer keyboards can provide nearly free credit creation to finance spending.

Once the money is created by government, the crucial difference is that governments spend it (at least in principle) to promote long-term growth and employment, invest in public infrastructure, research and development, provide health care and other basic economic functions. Banks have a more short-term time frame and narrowly self-interested motivation. Some 80% of their loans are mortgages against real estate. Banks lend against collateral in place, and the economy’s largest assets are land and buildings. Although banks loans also are used to finance leveraged buyouts and corporate takeovers, most new fixed capital investment by corporations is financed out of retained earnings, not bank credit.

And contrary to popular belief, the stock market has ceased to be a source of such financing. Textbook diagrams still depict it as raising money for new capital investment. Unfortunately, it has been turned into a vehicle to buy out companies on credit (e.g., with high interest junk bonds), replacing equity with debt (“taking a company private” from its stockholders). Inasmuch as interest payments are tax-deductible – on the pretense that they are a necessary cost of doing business – corporate income-tax payments are lowered. And what the tax collector relinquishes is available to be paid out to the bankers and bondholders who get rich by loading the economy down with debt.

The upshot is that the flow of corporate earnings is not used for productive investment, but is diverted to the financial sector – not only to pay interest and penalties to banks, but for stock buybacks intended to support stock prices and hence the value of stock options that managers of today’s financialized companies give themselves.

Welcome to the post-industrial economy, financial style. Industrial capitalism has passed through a series of stages of finance capitalism, from Pension-Fund capitalism via Globalized Dollarization and the Bubble Economy to the Negative Equity stage, foreclosure time, debt deflation, and austerity – and now what looks like debt peonage in Europe, above all for the PIIGS: Portugal, Ireland, Italy, Greece and Spain. (The Baltic countries of Latvia, Estonia and Lithuania have been plunged so deeply into debt that their populations are emigrating to find work and flee debt-burdened real estate. The same has plagued Iceland since its bank rip-offs collapsed in 2008.)

Why aren’t economists describing these phenomena? The answer is a combination of political ideology and analytic blinders. As soon as the Rimini conference ended on Sunday evening, for instance, Paul Krugman’s Monday, February 27 New York Times column, “What Ails Europe?” blamed the euro’s problems simply on the inability of countries to devalue their currencies. He rightly criticized the Republican Party line that blames social welfare spending for the Eurozone’s problems, and also criticized putting the blame on budget deficits.

But he left out of account the straitjacket of the European Central Bank (ECB) inability to monetize the deficits by issuing currency or more typically, simply writing checks on the central bank’s own account. This prohibition is a result of the junk economic theology written into the EU constitution. Krugman’s rejection of MMT leads him to ignore this option:

“If the peripheral nations still had their own currencies, they could and would use devaluation to quickly restore competitiveness. But they don’t, which means that they are in for a long period of mass unemployment and slow, grinding deflation. Their debt crises are mainly a byproduct of this sad prospect, because depressed economies lead to budget deficits and deflation magnifies the burden of debt.”

There are two problems with this neoclassical trade analysis. First, currency depreciation lowers the price of labor, while raising the price of imports. The burden of debts denominated in foreign currencies increases in keeping with the devaluation. This creates problems unless governments pass a law re-denominating all debts in their own domestic currency. This will satisfy the Prime Directive of international financing: always denominate debts in your own currency, as the United States does.

Fortunately, sovereign nations can do this ex post facto. In 1933, for instance, Franklin Roosevelt nullified the Gold Clause in U.S. loan contracts, enabling banks and other creditors to be paid in the equivalent gold value. But any sovereign government can rule how debts are to be paid (or not paid, for that matter). In his usual neoclassical fashion, Mr. Krugman ignores this debt issue:

“The afflicted nations [the PIIGs], in particular, have nothing but bad choices: either they suffer the pains of deflation or they take the drastic step of leaving the euro, which won’t be politically feasible until or unless all else fails (a point Greece seems to be approaching). Germany could help by reversing its own austerity policies and accepting higher inflation, but it won’t.”

So the existing system could work, he contends, if only Germany would inflate its economy and more German tourists spend more in Greece – assuming that the Greek government would tax enough of this spending to balance its budget. If Germany does not bail out the failed and dysfunctional economic structure, Greece will have to withdraw – but devaluation will restore equilibrium.

This is typical neoclassical over-simplification. Leaving the euro is not sufficient to avert austerity, foreclosure and debt deflation if Greece and other countries that withdraw retain the neoliberal anti-government, post-industrial policy that plagues the Eurozone. If the post-euro economy has a central bank that still refuses to finance public budget deficits, forcing the government to borrow from commercial banks and bondholders. What if the government still believes that it should balance the budget rather than provide the economy with spending power to increase its growth? In this case the post-euro government will tie itself in the same policy straitjacket that the Eurozone now imposes.

Suppose further that the Greek government slashes public welfare spending, and bails out banks for their losses, or takes losing bank gambles onto the public balance sheet, as Ireland has done. For that matter, what if the governments do what the neoliberal Obama Administration in the United States has done, and refrain from writing down real estate mortgages and other debts to the debtors’ ability to pay, as Iceland and Latvia have failed to do? The result will be debt deflation, forfeiture of property, rising unemployment – and a rising tide of emigration as the domestic economy and employment opportunities shrink. The budget deficit and balance-of-payments deficit both will worsen, not improve.

Mr. Krugman’s second error of omission is his assumption that government budgets need to be balanced. He misses the MMT point that governments can finance deficits rather than relying on bondholders. The monetary effect is identical: credit-financed spending. The difference – and it is essential – is that the government is not constrained by having to tax the economy to finance its operations, and it does not go further in debt to banks and bondholders. But despite his counter-cyclical Keynesianism, Mr. Krugman shares in principle the neoliberal mythology that demonizes the public option for credit creation, while approving private sector debt financing (even in foreign currencies!). The upshot is to make economies behave as if they still were on the gold standard, needing to borrow savings (in “hard” assets), when in fact the banks have simply sold the illusion that their electronic balance-sheet entries are “as good as gold.” That world ended in 1971 when the United States went off gold. Since then, all currencies are state currencies – often backed by U.S. Treasury IOUs rather than their own money, to be sure.

So what then is the key? It is to have a central bank that does what central banks were founded to do: monetize government budget deficits so as to spend money into the economy, in a way best intended to promote economic growth and full employment.

This is the MMT message that the five of us were invited to explain to the audience in Rimini. Some attendees came up and explained that they had come all the way from Spain, others from France and cities across Italy. And although we gave many press, radio and TV interviews, we were told that the major media were directed to ignore us as not politically correct.

Such is the censorial spirit of neoliberal monetary austerity. Its motto is TINA: There Is No Alternative, and it wants to keep matters this way. As long as it can suppress discussion of how many better alternatives there are, the hope is that the public will remain quiescent as their living standards shrink and wealth is sucked up to the top of the economic pyramid to the 1%.

The audience was vocally against remaining in the eurozone – to the extent that continued adherence to it meant submission to neoliberal pro-financial policies. (The proceedings were videotaped and will be transcribed and placed on the web. Pacifica KPFA broadcaster Bonnie Faulkner attended and is compiling a series of programs and will re-interview the speakers for her “Guns and Butter” program.) They had no naivety that withdrawal by itself would cure the problems that they originally hoped EU membership would solve: Italian political corruption, tax evasion by the rich, insider dealings, and most of all, the power of banks to siphon off the surplus and control the government, the mass media and even the universities in an attempt to brainwash the population to believe that financial control of resource allocation, tax policy and wealth distribution was all for the best to make the economy more efficient.

The audience requested above all more monetary and fiscal theory from Stephanie Kelton, who gave the clearest lecture on economics I have ever heard – a Euclidean presentation of MMT logic. For a visual of the magnitude see here.

The size of the audience filling the sports stadium to hear our economic explanation of how a real central bank should operate to avoid austerity and promote rather than discourage employment showed that the government’s attempt to brainwash the population was not working. The attempt to force TINA logic on the population is not working any better than it did in Harvard’s Economics 101 class, from which students recently walked out in protest against the unrealistic parallel universe thinking. Its appeal is mainly to intelligent but ungrounded individuals (not yet post-autistic). They are selected as useful idiots and trained to draw pictures of the economy that exclude analysis of the debt overhead, rentier free lunches and financial parasitism. One needs to be very clever, after all, to imagine a system that “saves the appearances” of an unrealistic Ptolemaic system.

There is a growing sense that Western civilization itself is at a critical juncture. It must choose between needless austerity and progress – but progress is blocked by the reluctance to write down the debt overhead. So as Prof. Kelton noted, economies face two different types of growth policy. Neoliberal policy promises to help the body politick grow by draining the blood from the body, ostensibly to help it grow more healthily and restore its balance (with power to the wealthy 1%). The MMT policy is feed the body to help it grow healthy. This requires liberating the brain – the government and policy makers that implement an economic philosophy – from the financial sector’s control.

Epilogue
A Norwegian economist wrote to me:

I do not understand what is new about this:
governments can create money  … to promote long-term growth …
What IS new is that somebody finally listens.
There seems to a hunger out there for somebody (with the “right background”) to tell people plain simple common sense.

What MMT teaches today is indeed long-established knowledge and practice. The degree to which its logic and message have been excluded from the academic curriculum is testament to the neoliberal version of free markets: their policy only appears to work if they can excluded discussion of any alternatives – and indeed, exclude economic history itself.

Summary videos can be seen as per:




=============

Chiến Tranh là trò làm tiền Gian Manh

Major General Smedley Butler, USMC.Butler.GThiếu tướng Smedley Butler, Thủy quân lục chiến Mỹ, sinh 30-7-1881- mất 21-6-1940. Có biệt danh là Ngưòi Chiến Đấu Hòa Bình “The Fighting Quaker” và Ông Già Mắt Sắc “Old Gimlet Eye”, vì sau khi ra khỏi quân đội, ông tích cực vận động dân trí, hô hào chính trị diễn thuyết khắp nơi chống chiến tranh gian manh của bọn nhà nước chính trị. Trong thòi của Ông, ông là một vị tướng TQLC nhiều huân chương chiến công nhất.
Ông đầu quân khi cuộc chiến Mỹ-Tây ban Nha bùng nổ. được huy chương Brevette trong thời gian loạn Quyền Thuật ở Trung Quốc, chiến đấu ở Trung Mỹ, và tại Pháp trong Thế chiến thứ Nhất và được vinh thăng thiếu tướng. Ông phục vụ quốc gia trong 34 năm, tuy vậy ông tuyên bố chống lại việc Mỹ can thiệp vũ trang vào công việc của các quốc gia có chủ quyền.CHIẾN TRANH LÀ TRÒ LÀM TIỀN GIAN MANH(BẢN ANH NGỮ : Bài nói chuyên của tướng Smedley Butler, TQLC Mỹ năm 1933, ông mất năm 1940) (Minh Triết NCĐ chuyển ngữ)

Chiến Tranh là trò làm tiền GIAN MANH. Nó lúc nào cũng vậy.

Nó có thể là phương cách cổ xưa nhất, cách sinh lợi dễ dàng nhất, chắc chắn là cách độc ác nhất. Nó là cách độc nhất mà lợi lộc được tính bằng đô-là và mất mát bằng sinh mạng con người.

Một mưu mô làm tiền gian manh là cách miêu tả tốt nhất mà tôi tin là một cái gì đó không phải là điều mà đa số người ta nghĩ đến. Chỉ có một nhóm nhỏ “tay trong” biết nó thực sự là gì. Người ta điều khiển nó cho lợi ích thiểu số, trên sự mất mát của thật nhiều người. Và từ chiến tranh, một số người trở nên giàu sụ nhờ đó.

Trong chiến tranh Thế Giới thứ Nhất, một nhóm nhỏ đã gom góp được nhiều món lợi nhuận từ cuộc chiến này. Ít nhất có 21,000 tân tỷ phú và triệu phủ được đẻ ra tại Mỹ trong thế chiến (thứ nhất.) Đây mói chỉ là những người thú nhận lợi tức lớn lao của họ từ máu trên bảng khai thuế. Còn bao nhiêu triệu phú nữa nhờ chiến tranh nhưng khai gian thuế, không ai biết.

Có bao nhiêu gã triệu phú chiến tranh này đã vác súng? Bao nhiêu đứa chúng nó đào giao thông hào? Bao nhiêu trong đám chúng nó đã biết mùi đói khổ trong căn hầm đầy chuột là gì? Bao nhiêu đứa chúng nó đã trải qua nhiều đêm không ngủ, kinh hoàng, núp tránh đạn pháo cùng miểng và đạn súng máy? Bao nhiêu kẻ trong chúng nó đã thọc lưỡi lê vào kẻ thù? Bao nhiêu đứa chúng nó đã bị thương hay tử trận?

Quốc gia lấy được thêm lãnh thổ từ chiến tranh, nếu họ thắng trận. Bọn chúng nó chỉ vơ hết. Lãnh thổ mới chiếm này lập tức được khai thác bởi một thiểu số-cùng là nhóm thiểu số moi tiền từ máu ngưòi trong chiến tranh. Quần chúng đưa vai ra gánh trả phí tổn.

Và phí tổn này là gì?

Phí tổn đó trở nên một hóa đơn khủng khiếp. Những mộ bia mới xây, bao nhiêu thân thể đứt lìa, tâm thần vỡ vụn, bao nhiêu cõi lòng tan nát và gia đình đổ vỡ, Bất ổn kinh tế, Suy thoái và những cùng khổ tiếp theo, Thuế khóa còng lưng cho các thế hệ tiếp nối.Trong thật nhiều năm, với tư cách một người lính, tôi đã hoài nghi chiến tranh là một trò làm tiền gian manh: chỉ cho tới khi tôi lui về hưu với đời sống dân sư, tôi mới thật sự nhận thức ra hiểu nó trọn vẹn. Và bây giờ khi tôi thấy những đám mây chiến tranh thế giới (thế chiến thứ 2) tụ lại, như hôm hay, tôi phải đối mặt với nó và lên tiếng cảnh báo.

Và một lần nữa, họ chia phe. Pháp và Nga đã gặp nhau và thoả thuận đứng bên nhau. Ý và Áo vội vã làm một thỏa ước tương tự. Ba lan và Đức đưa mắt thân thiện nhìn nhau, tạm gác qua, cuộc tranh chấp về hành lang Ba lan (tới Koenisberg của Đức).

Vụ ám sát vua Alexander của Nam tư làm rắc rối mọi việc. Nam Tư và Hung Gia Lợi gần như sẵn sàng cắt cổ nhau. Ý sẵn sàng nhảy vào. Nhưng Pháp đang đợi. Tiệp khắc cũng vậy. Tất cả bọn nhà nưóc họ đều mong chờ chiến tranh. Nhưng dân chúng thì không như vậy-Với những người phải chiến đấu và đóng thuế và chết thì không- Chỉ có những kẻ cò mồi chiến tranh và ở nơi hậu phương để trục lợi, mới mong chiến tranh.

Hiện nay trên thế giới có đến 40 triệu quân dưới cờ (các quốc gia), và các nhà lãnh đạo cùng ngoại giao của chúng ta có can đảm nói rằng chiến tranh không cận kề.

Quỷ thần ơi! 40 triệu người này được huấn luyện để chỉ làm vũ công à?

Ở Ý là không phải rồi, chắc chắn là vậy. Thủ tướng Mussolini biết rằng họ được huấn luyện để làm gì. Ông ta, ít nhất, thẳng thắn nói ra. Và chỉ mới hôm nọ, Lãnh Tụ này đã tuyên bố trong quyển “Hoà Giải Quốc Tế” do quỹ Carnergie vì Hoà bình Quốc Tế ấn hành:

“Trên hết tất cả , chủ nghĩa Phát xít, càng chiêm nghiệm và quan sát tương lai và sự phát triển của nhân loại tách rời ra khỏi những toan tính chính trị thời cuộc hiện nay, càng không tin vào khả năng hay ích lợi của nền hoà bình vĩnh cửu…Chỉ có chiến tranh mới mang hết được năng lực tận cùng của con người ra và đóng dấu ấn cao quí lên dân tộc nào có can đảm đối mặt với nó”.

Thật không hoài nghi gì nữa, Mussolini tin chắc vào những gì ông ta nói. Quân đội dày công huấn luyện của ông, đàn phi cơ của ông, và hải quân của ông sẵn sang cho chiến tranh-nôn nóng vì nó, hình như vậy. Vị thế sát cánh với Hung gia lợi trong tranh chấp với Nam Tư cho thấy điều đó. Và sự động viên vội vã của quân Ý dọc biên giới Áo sau khi Dollfuss bị ám sát cho thấy điều đó luôn. Chuyện động đao, động kiếm ở Âu châu báo hiệu chiến tranh, không chóng thì muộn.

Ngài Hitler, với sự tái vũ trang Đức quốc và đòi hỏi thêm nhiều vũ khí, là một đe dọa không bằng thì cũng lớn hơn cho hoà bình. Pháp vừa mới tăng thời gian nghĩa vụ quân sự cho thanh niên từ 1 năm lên 18 tháng.

Vâng, khắp mọi nơi, các quốc gia đang chuẩn bị vũ khí. Những con chó dại của Ậu châu sút chuồng. Ở Viễn Đông, các biến chuyển thì rắc rối hơn. Hồi năm 1904, khi Nga và Nhật đánh nhau, chúng ta đạp người bạn cũ Nga và hậu thuẫn Nhật. Rồi các nhà tài phiệt quốc tế rộng rãi của chúng ta tài trợ Nhật bản. Và bây giờ khuynh hướng là đầu độc chúng ta về Nhật bản. Chính sách “mở cửa” với Trung Hoa là gì với chúng ta? Mậu dịch của chúng ta với Trung hoa là 90 triệu một năm. Hay quần đảo Phi luật Tân? Chúng ta đã tiêu khoảng 600 triệu đô la tại Phi luật Tân trong 35 năm và chúng ta (các nhà tài phiệt, kỹ nghệ và đầu cơ) có đầu tư riêng biệt ở đó ít hơn 200 triệu.

Và rồi, để cứu mậu dịch Trung hoa khoảng 90 triệu, hay để bảo vệ các khoản đầu tư tư nhân chưa đến 200 triệu ở Phi luật Tân, chúng ta kích động để gây căm thù Nhật bản và lao vào chiến tranh-một cuộc chiến tốn kém hàng tỷ đô la, hàng trăm nghìn sinh mạng người Mỹ, và thêm hàng trăm nghìn người khác thương tật thể xác và tâm thần bất ổn.

Dĩ nhiên, phải có sinh lời để bù vào sự lỗ lã này-nhiều tài phú sẽ hình thành. Hàng triệu và hàng tỷ đô la sẽ chồng chất bởi một thiểu số: nhà sản xuất đạn dược, nhà tài chính, nhà đóng tàu, sản xuất, đóng thịt hộp, đầu cơ. Đám này sẽ phát tài mạnh mẽ.

Đúng thế, bọn chúng đang sẵn sàng cho một cuộc chiến khác. Tại sao lại không chứ? Nó đẻ ra lãi to lớn mà.

Nhưng nó đem lại lợi lộc gì cho những người bị giết? Nó có đem lại ích lợi gì cho các bà mẹ , và chị em, vợ , và người yêu của họ? Nó có ích lợi gì cho con cái của họ?

Chiến tranh nó sinh lợi gì cho ai, ngoại trừ một thiểu số mà chiến tranh là lợi lộc lớn của bọn chúng?

Vâng, và nó có lợi gì cho quốc gia?

Hãy lấy chính trường hợp Mỹ của chúng ta. Cho tới năm 1898, chúng ta không có một miếng lãnh thổ nào ngoài chính quốc của Bắc Mỹ. Vào lúc đó, nợ quốc gia của chúng ta chỉ hơn 1 tỷ. Rồi chúng ta trở thành “quan tâm” đến quốc tế. Chúng ta quên, hay gạt bỏ, lời răn dạy của các vị tổ phụ lập quốc chúng ta. Chúng ta quên lời cảnh báo của George Washington về “những giao ước giăng mắc”. Chúng ta lao vào chiến tranh. Chúng ta lấy được lãnh thổ hải ngoại. Cuối thế chiến, nợ quốc gia của chúng ta nhảy tới hơn 25 tỷ, đó là kết quả trực tiếp của việc xen vào bang giao quốc tế. Thăng bằng cán cân mậu dịch tổng cộng của chúng ta trong thơì gian 25 năm đạt vào khoảng 24 tỷ. Như vậy, trên bình diện kế toán, chúng ta, chúng ta trễ nợ mỗi năm, và con số ngoại thương đó có thể là của chúng ta nếu không có chiến tranh.

Đối với một người Mỹ bình thường, trả tiền để đứng ngoài vòng việc dây dưa với ngoại bang có lẽ rẻ hơn (Chưa nói là an toàn hơn). Trò làm tiền này, đối với một thiểu số, cũng như nấu rượu lậu và các trò làm tiền khác, kiểu xã hội đen, đem về lợi nhuận choáng mắt, nhưng cái giá phí tổn để tiến hành, luôn bị đổ lên đầu người khác-những người chẳng hưởng lợi lộc gì.

Chương 2- Ai hưởng lợi?

Cuộc Thế Chiến (I), hay có lẽ sự tham chiến ngắn ngủi cùa chúng ta vào nó, đã tiêu tốn nước Mỹ 52 tỷ đô-la. Hãy tính xem. Đó là 400 đô-la cho mỗi người đàn ông, đàn bà và con nít Mỹ. Và chúng ta vẫn chưa trả xong nợ. Chúng ta đang trả nó, con cái chúng ta sẽ trả nó, và cháu chắt chúng ta có lẽ cũng sẽ tiếp tục trả cái phí tổn của cuộc chiến đó.Tiền lời của một cơ sở làm ăn tại Mỹ thường là 6, 10, và đôi khi 12%. Nhưng tiền lời thời chiến-à! Nó là chuyện khác hẳn- 20%, 60%, 100%, 300%, và 1800 %…nó lên tới trời xanh. Tất cả là điều kiện thuận lợi. Chú Sam (nhà nước Mỹ) có tiền. Cứ nhào vô lấy.

Dĩ nhiên, nó không được trình bày thẳng thừng như vậy trong thời chiến. Nó được biến cải thành lòng ái quốc, tình yêu nước, và “chúng ta phải chung vai đấu cật”, nhưng lợi lộc thì tăng rồi nhảy vọt và phóng thăng thiên-và được bỏ túi an toàn. Hãy lấy một vài ví dụ:

Hãy lấy những người bạn du Ponts của chúng ta, dân làm thuốc súng. Gần đây một người trong going tộc họ đã ra làm chứng trước Ủy ban Thượng viện rằng thuốc súng của họ thắng cuộc chiến phải không nào? Hay là cứu thế giới vì dân chủ? Hay cái gì đó, đúng không nào? Họ đã làm như thế nào trong chiến tranh? Họ từng là một tập đoàn tư bản yêu nước. Ấy mà, thu nhập trung bình của giòng họ du Ponts trong khoảng thời gian 1910 tới 1914 (trước chiến tranh) là 6 triệu hàng năm. Nó không nhiều nhưng dòng họ du Ponts xoay sở cũng đủ. Và bây giờ hãy nhìn tới lợi tức trung bình của họ mỗi năm trong những năm chiến tranh, 1914 tới 1918. Chúng tìm ra được là năm-mươi-tám triệu tiền lời mỗi năm! Gần gấp mười lần thời bình, và lợi tức thời bình cũng đã quá tốt. Một sự gia tăng lợi nhuận hơn 950%.

Hãy lấy một trong những công ty sắt cỏn con của chúng ta đã vì lòng ái quốc, gạt bỏ sản xuất đường ray tàu hỏa và khung nhà và cầu để sản xuất vật dụng chiến tranh. Mà xem, thu nhập hàng năm trong khoảng 1910-1914 độ chừng 6 triệu. Rồi chiến tranh tới. Và, như tất cả công dân trung thành, “Sắt Bethlehem” lập tức chuyển qua sản xuất đạn dược. Thế lợi nhuận của họ đã vọt lên -hay là họ để giá hời cho Chú Sam nào? Đấy nhá, thu nhập giữa 1914-1918 của họ là 49 triệu hàng năm!

Hay cứ lấy công ty Sắt Hoa kỳ chẳng hạn. Thu nhập trung bình trong khoảng thời gian 5-năm trước cuộc chiến là 105 triệu hàng năm. Không tệ chút nào. Rồi chiến tranh đến và lợi nhuận nhảy vọt. Lợi nhuận trung bình hàng năm cho khoảng thời gian 1914-1918 là 240 triệu. Quả thật không tệ.

Đó là thu nhập về sắt và thuốc súng. Hãy nhìn đến một thứ gì khác. Một chút đồng chẳng hạn. Ngành này luôn khấm khá trong thời chiến.

Lấy ví dụ Công ty Anaconda, thu nhập trung bình hàng năm trong những năm tiền chiến 1910-1914 là 10 triệu. Trong những năm chiến tranh 1914-1918, lợi nhuận vọt lên 34 triệu hàng năm.

Hay công ty Đồng Utah, trung bình 5 triệu hàng năm trong khoảng 1910-1914. Vọt lên trung bình 21 triệu lợi nhuận hàng năm trong thời gian chiến tranh.

Hãy gộp 5 công ty này lại, với 3 công ty nhỏ hơn. Lợi nhuận trung bình hàng năm của thời gian tiền chiến 1910-1914 là 137 triệu 480 nghìn. Rồi chiến tranh đến. Lợi nhuận trung bình của nhóm này vọt lên 408 triệu 300 nghìn.

Một chút xíu gia tăng lợi nhuận phỏng chừng 200 %.

Chiến tranh có sinh lợi không? Nó đã đẻ tiền cho bọn đó. Nhưng bọn đó không phải là những kẻ duy nhất. Còn những người khác. Hãy lấy kỹ nghệ da.

Trong khoảng 3 năm tiền chiến, lợi nhuận tổng cộng của công ty Da Trung Uơng là 3 triệu rưỡi. Nó chia ra độ 1 triệu 167 nghìn hàng năm. Ấy thế, năm 1916, công ty này có lợi nhuận là 15 triệu, một sự gia tăng nhỏ bé có 1100%. Chỉ có vậy. Công ty Hóa chất Tổng Quát kiếm được lợi nhuận trung bình trong 3 năm tiền chiến là 800 nghìn hàng năm. Chiến tranh tới, và lợi nhuận vọt lên 12 triệu. Một cú nhảy vọt tới 1400%.

Công ty Kền Quốc Tế nữa-và ta không thể tiến hành chiến tranh mà không có kền-cho thấy sự gia tăng lợi tức từ chỉ có 4 triệu tới 73 triệu hàng năm. Không tệ. Một sự gia tăng hơn 1700%.

Công ty Đường hàng năm kiếm được trung bình 2 triệu trong 3 năm tiền chiến. Vào năm 1916, tiền lời ghi nhận là 6 triệu.

Hãy nghe tài liệu Quốc Hội số 259, Quốc Hội Thứ Năm Mươi Sáu báo cáo về thu nhập doanh nghiệp và nhà nước. Xem xét lợi tức của 122 công ty thịt, 153 nhà sản xuất bông vải, 229 công ty may mặc, 49 nhà máy sắt và 340 công ty than trong thời chiến. Lợi tức mà dưới 25% là ngọại lệ. Ví dụ, các công ty than kiếm được lợi giữa 100% và 7856% trên tiền vốn trong thời chiến. Các nhà sản xuất thịt ở Chicago tăng gấp đôi, gấp ba thu nhập.

Và chúng ta đừng quên giới tài chính ngân hàng, những kẻ tài trợ cuộc chiến vĩ đại. Nếu có ai kiếm được siêu lợi nhuận đó là giới tài phiệt. Vì là những cá nhân chung vốn (những tổ hợp đối tác) thay vì là tổ chức công ty đăng ký kinh doanh cổ phần, họ không phải báo cáo cho giới đầu tư cổ phần. Và như thế lợi nhuận của họ cũng bí mật như sự to lớn của nó . Làm sao giới tài phiệt kiếm hàng triệu và hàng tỷ, tôi không biết vì những bí mật cỏn con đó không bao giờ được công bố-ngay cả trước Ủy ban điều tra Thượng Viện.

Nhưng đây là cách mà vài kẻ trong các nhà kỹ nghệ và đầu cơ yêu nước đục đẽo con đường của họ tới lợi nhuận từ chiến tranh.

Lấy ví dụ các nhà đóng giày. Họ thích chiến tranh. Chiến tranh đem lại việc làm ăn với lợi nhuận phi thường. Họ đạt lãi rất to do xuất khẩu tới các đồng minh của chúng ta. Có lẽ, cũng như những nhà sản xuất vũ khí và đạn dược, họ cũng bán cho kẻ thù. Vì một đô-la là một đô-la cho dù nó đến từ Đức hay Pháp. Nhưng bọn họ làm ăn khá cũng là do buôn bán với chú Sam nữa.

Ví dụ họ bán 35 triệu đôi giày đinh. Với 4 triệu quân nhân, một người được hơn 8 đôi giày. Trung đoàn của tôi, thời chiến lúc đó, mỗi người lính chỉ được phát một đôi. Có lẽ một số đôi giầy này bây giờ vẫn còn được dùng. Vì toàn là giày tốt c ả. Ấy nhưng khi chiến tranh kết thúc, chú Sam (chính phủ) vẫn còn dư thừa 25 triệu đôi. Đã mua-và trả tiền cả rồi. Tiền lời cũng đã ghi chép và bỏ túi.

Số da dư vẫn còn nhiều. Rồi các nhà thuộc da bán cho chú Sam hàng trăm nghìn yên ngựa McClelan cho kỵ binh. Nhưng Mỹ lại không có một quân kỵ binh nào ở hải ngoại cả! Như thế thì Ai đó phải tống khứ mớ da đó đi. Kẻ nào đó phải kiếm lời từ số da đó- Cho nên chúng ta có một đống yên ngựa McClellan. Và hình như giờ chúng ta vẫn còn một đống.

Cũng vậy, có kẻ nào đó có rất nhiều mùng màn chống muỗi. Thế là chúng nó bán cho chú Sam 20 triệu cái mùng để lính hải ngoại xài. Tôi giả thiết là người ta tưởng đám lính giăng mùng chui vào khi họ phải cố ngủ trong chiến hào ngập bùn lâỳ-một tay phải gãi rận và tay kia quơ đám chuột chạy. Thế đấy, không có một cái mùng nào được gửi đến chiến trường Pháp cả!

Ấy nhưng mà bằng mọi cách, những nhà sản xuất tính kỹ tính xa này muốn chắc chắn rằng không người lính nào không có mùng, cho nên, 40 triệu thước vải mùng được bán cho chú Sam!

Đó là lợi nhuận tốt đẹp trong nghề vải mùng vào thời đó, mặc dù không có muỗi bên Pháp. Tôi giả sử rằng nếu chiến tranh kéo dài thêm chút nữa, những nhà sản xuất mùng lanh lợi có lẽ sẽ bán cho chú Sam vài thùng muỗi để thả bên Pháp hầu nhiều vải mùng nữa sẽ được đặt hàng.

Những nhà chế tạo phi cơ và động cơ cảm thấy rằng họ cũng nên kiếm những món lời chính đáng từ cuộc chiến này. Tại sao không? Mọi người khác đều kiếm lời cho họ. Rồi một tỷ đô la- cứ đếm tiếp nó nếu bạn còn sống đủ thọ tới đó-được chú Sam tiêu để sản xuất động cơ máy bay mà không bao giờ cất cánh! Không một chiếc nào, hay động cơ, từ cả tỷ đô la hợp đồng đó, dùng tham chiến bên Pháp hết. Cũng chỉ là cái đám nhà sản xuất đó kiếm chút đỉnh lời độ 30, 100 hay có lẽ 300 %.

Áo thung lót của lính tốn 14 xu để sản xuất, và chú Sam trả 30 xu tới 40 xu cho một chiếc- một lợi nhuận nhỏ bé cho nhà sản xuất áo thun. Và nhà sản xuất tất vớ và nhà sản xuất quân phục và nhà sản xuất mũ và nhà sản xuất nón sắt- đứa nàio cũng có phần hết.

Tại sao, khi chiến tranh chầm dứt, hơn 4 triệu bộ quân trang quân dụng-ba lô và đồ đạc để đựng đầy chúng-chất đầy trong nhà kho ở Mỹ. Rồi bây giờ, chúng bị vứt bỏ vì theo quy định mới đã thay đổi quân trang. Nhưng mà những nhà sản xuất đã thu lợi từ số đó rrồi-và bọn họ sẽ lại làm như thế lần tới nữa.

Có nhiều ý kiến độc đáo để kiếm lời trong thời chiến tranh.

Một người ái quốc tháo vát bán cho chú Sam cả chục tá đồ vặn ốc cho lọai ốc cỡ lớn cả thước (48 inches) . Ờ nhỉ, đó là những đồ vặn ốc đẹp. Vấn đề ở chỗ chỉ có một con ốc được chế tạo lớn đúng cỡ cho những đồ vặn ốc này. Đó là con ốc giữ các Cuộn phát điện ở thác Niagara. À thế, sau khi chú Sam mua cái mớ này và nhà sản xuất đã bỏ túi tiền lời, mớ đồ vặn ốc này được đưa lên xe lửa và tải vòng quanh nước Mỹ để cố tìm cho được chỗ dùng nó. Khi Hoà ưóc đình chiến được ký kết, nó thật sự là một cú chấn thương đau buồn cho cái gã chế tạo dụng cụ vặn ốc. Ông ta vừa bắt đầu chế tạo vài con ốc to để vừa với đồ vặn. Để rồi ông ta đã tính bán vài con ốc đó, cũng cho chú Sam!

Chưa hết, một người khác đã có ý nghĩ độc đáo rằng các vị đại tá không nên đi xe hơi hay cưỡi ngựa. Người đó có lẽ đã thấy hình Andrew Jackson ngồi xe 4 bánh ngựa kéo. Vâng, 6000 chiếc xe 4 bánh ngựa kéo được bán cho chú Sam để cho các vị đại tá xử dụng! Không một chiếc nào được dùng. Nhưng nhà sản xuất xe ngựa 4 bánh đã kiếm được lợi nhuận chiến tranh của họ.

Những nhà đóng tàu cảm thấy họ cũng nên nhào vô kiếm chút cháo. Họ đóng thật nhiều tàu để kiếm nhiều lời. Hơn 3 tỷ trị giá. Một số tàu dùng được. Nhưng một số tầu trị giá 635 triệu đóng bằng gỗ không nổi được! Những mối nối bị hở-và chúng chìm. Tuy vậy, (nhà nước) chúng ta cũng trả tiền chúng nó. Và kẻ nào đó bỏ túi tiền lời.

Các nhà nghiên cứu, kinh tế gia và thống kê đã ước đoán rằng cuộc chiến đã làm tốn tiền chú Sam 52 tỷ. Trong số tiền này, 39 tỷ được chi trả ngay cho chính cuộc chiến. Số phí tổn này phải trả ra 16 tỷ tiền lời. Đó là cách làm sao mà 21,000 tỷ phú và triệu phú kiếm tiền. Không nên xem thừơng số lời 16 tỷ này. Nó là một con số khá đấy. Và nó chạy vào túi một ít thiểu số thôi.

Cuộc điều tra của ủy ban thượng viện về kỹ nghệ súng đạn và tiền lãi thời chiến, chỉ mớ mò mẫm trên bề mặt nổi, dù với nhiều tiết lộ gây chấn động.

Tuy vậy, nó cũng có vài ảnh hưởng. Bộ Ngoại Giao đã từng xem xét “từ lâu” các cách để đứng ngoài vòng chiến. Bộ Chiến Tranh bất ngờ quyết định họ có một kế hoạch tuyệt diệu để đề nghị. Hành pháp đặt ra một ủy ban-với bộ Chiến Tranh và bộ Hải Quân được đại diện ủy quyền dưới ghế chủ tịch của một tên đầu cơ phố Wall- để giới hạn tiền lãi thời chiến. Giói hạn đến mức nào không thấy nói đến…Hmmm…Có lẽ mức lãi 300 và 600 và 1600% của những kẻ biến máu thành vàng trong Thế Chiến sẽ bị giới hạn ở những con số nhỏ hơn.

Tuy thế, rõ ràng kế hoạch này không đề ra cái giới hạn cho sự mất mát tổn thất- đó là-việc mất mát tổn thất của những kẻ chiến đấu trong cuộc chiến. Tôi dám đoan quyết đến hết sức của tôi rằng chẳng có gì trong cái kế hoạch đó giới hạn sự mất mát mức tổn thất của người lính là chỉ được mất một con mắt, hay một cái tay thôi, hay giới hạn chỉ nên bị một vết thương hay đến hai hay ba vết thương thôi. Hay giới hạn sự tổn thất sinh mạng con người.

Không có gì trong kế hoạch đề xuất này, một cách rõ ràng, chẳng hạn như KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ hơn 12% của một trung đoàn bị thương khi lâm trận, hay không ĐƯỢC ĐỂ HƠN 7% của một sư đoàn phải tử trận.

Dĩ nhiên, cái Ủy ban này không thể bị quấy rầy với ba chuyện vặt vãnh như vậy!

* Chú ý: Chú Sam (Uncle Sam) ý chỉ nhà nước Mỹ.

CHƯƠNG 3: NHỮNG AI PHẢI NAI LƯNG TRẢ CHIẾN PHÍ?

Ai cung cấp lợi nhuận-những mảnh lợi nhuận nho nhỏ xinh xắn của 20, 100, 300, 1500 và 1800 phần trăm . Tất cả chúng ta trả chúng-bằng tiền thuế. Chúng ta trả các nhân viên ngân hàng tiền lời của họ khi chúng ta mua Công Trái Phiếu Tự Do với giá 100 đô và bán chúng lại ở giá 84 hay 86 đô cho giới ngân hàng. Giới ngân hàng này thu vào hơn 100 đô. Đó là một mánh khoé đơn giản. Giơí ngân hàng kiểm soát siêu thị an ninh. Họ có thể dìm giá các công khố phiếu này thật là dễ giàn. Rồi tất cả chúng ta- nhân dân-trở nên hốt hoảng và bán trái phiếu ra ở giá 84 hay 86 đô. Giới ngân hàng thu mua vào. Rồi cũng lại đám ngân hàng này kích thích sự tăng vọt giá cả và trái phiếu nhà nước nương theo đó-và còn hơn nữa. Rồi đám ngân hàng thu tiền lời của họ.

Nhưng người lính mới là người trả phần lớn nhất của hóa đơn.

Nếu anh không tin điều này, hãy viếng thăm các nghĩa trang Hoa kỳ trên các chiến trường ở nước ngoài. Hay viếng thăm bất cứ bệnh viện cựu chiến binh ở Hoa kỳ. Trên chuyến đi toàn quốc, giữa những dòng tôi đang viết lúc này, tôi đã viếng thăm 18 bịnh viện nhà nước cho cựu chiến binh. Trong đó là tổng cộng độ 50 nghìn con người tan nát-những con người được quốc gia tuyển chọn 18 năm trước đây. Người bác sĩ trưởng giải phẫu tại một bịnh viện nhà nước ở Milwaukee, nơi có 3800 tử thi còn sống này, bảo tôi rằng tỷ lệ tử vong trong cựu chiến binh cao gấp 3 lần so với những người không bị động viên.

Trai trẻ với tâm thức bình thường được tách ra khỏi đồng ruộng và văn phòng và nhà máy và nhấn vào hàng ngũ. Ở đó, họ được “đúc” lại, họ được tái tạo; họ được trui luyện đến “tột cùng” biến đổi nhân cách; xem sát nhân là mệnh lệnh hàng ngày. Họ được xếp vai kề vai và, qua tâm lý bầy đàn, họ bị biến đổi hoàn toàn. Chúng ta dùng họ vài năm và huấn luyện họ không nghĩ gì khác cả về giết và bị giết.

Rồi, một cách bất ngờ, chúng ta giải ngũ họ và bảo họ “ quay gót 180 độ” thêm lần nữa (biến đổi nhân cách tột cùng”!) Lần này, họ phải tự lo liệu điều chỉnh, không có tâm lý bầy đàn, không sự giúp đỡ và cố vấn của sĩ quan và tuyên truyền trên toàn quốc. Chúng ta không cần họ nữa. Vì vậy chúng ta giải tán họ mà không có bất cứ bài diễn văn hay diễn hành “Ba-phút” hay ca ngơi “Cho Vay vì Tự Do”. Rất nhiều, quá nhiều, những thanh niên trai trẻ đàng hoàng tuấn tú này cuối cùng bị hủy diệt, trên phương diện tâm thần vì tự họ không thể làm việc “ quay gót 180 độ” “biến đổi nhân cách cuối cùng” đó một mình.

Trong bệnh viện nhà nước ở Marion, Indiana, 1800 người trẻ này ở trong chuồng! 500 người trong họ trong những dãy nhà với song sắt và lưới chung quanh các toà nhà và trên thềm. Họ là những người đã bị hủy diệt về tâm thần. Những chàng trai trẻ này không còn nhân dạng nữa. Oh, và cái nhìn trên gương mặt họ, Về mặt thể xác, họ khỏe khoắn, về mặt tâm thần, họ đã chết.

Có hàng ngàn và hàng ngàn trường hợp như vậy và càng nhiều trường hợp hơn xảy ra luôn. Nỗi kích thích vĩ đại của chiến tranh, chuyện cắt đứt bất ngờ của nỗi kích thích đó-những chàng trai trẻ không chịu đựng được nó.

Đó là một phần của hóa đơn. Thây kệ đám tử trận-chúng nó đã trả cái phần của chúng nó trong tiền lời chiến tranh. Thây kệ đám thương tật tâm thần và thể xác-chúng nó hiện đang chi trả phần của chúng nó trong tiền lời chiến tranh. Nhưng những kẻ khác trả, nữa,-họ trả với bất hạnh khi họ dứt áo ra đi từ giã gia đình và nhà cửa để khoác lên quân phục của chú Sam- trên đó lợi nhuận đã được rút ra. Họ trả một phần nữa trong quân trường nơi họ được đội ngũ hóa và diễn tập trong khi kẻ khác lấy việc của họ và vị trí của họ trong cộng đồng nơi họ sinh sống. Họ trả nó trong chiến hào nơi họ bắn và bị bắn; nơi họ đôi khi đói ngày đêm; nơi họ ngủ trong bùn và lạnh và trong mưa-với tiếng rên rỉ và kêu la của những người hấp hối như lời ru khủng khiếp.

Nhưng xin đừng quên-người lính cũng trả phần của họ bằng các tờ bạc đô la nữa.(But don’t forget – the soldier paid part of the dollars and cents bill too)

Cho đến và ngay cả trong cuộc chiến Hoa kỳ-Tây ban Nha, chúng ta có hệ thống tưởng thưởng, và quân nhân cùng thủy thủ chiến đấu cho tiền. Trong thời Nội Chiến, họ được trả thưởng phụ trội, trong nhiều trường hợp, trước khi họ nhập ngũ. Chính quyền, hay tiểu bang, trả cao tới 1200 đô cho tiền đầu quân. Trong cuộc chiến Hoa kỳ-Tây ban Nha, họ cho tiền thưởng. Khi chúng ta bắt được bất cứ hải thuyền nào, tất cả lính đều có phần của họ-ít nhất, họ được giả định như vậy. Rồi người ta tìm ra cách chúng ta có thể giảm chiến phí bằng cách lấy tất cả tiền thưởng và giữ chúng, nhưng cũng bắt lính bằng bất cứ giá nào. Rồi những người lính không thể kèo nài công sức họ. Tất cả mọi người khác có thể, nhưng người lính không thể.

Napoleon từng nói “Tất cả con người đều mê đắm huân chương…họ chắc chắn ham hố huân chương”.

Và rằng bằng cách phát triển hệ thống Napoleon-áp-phe huân chương-nhà nước học hỏi làm sao nó có thêm quân mà ít tiêu hao tài chính hơn-bởi vì đám thanh niên thích được gắn huân chương. Huân chương không hiện hữu cho tơí thời Nội Chiến. Rồi Huân chương danh dự Quốc hội được phân phát. Nó làm việc đầu quân dễ dàng hơn. Sau Nội Chiến, không có huân chương nào mới được ban ra cho tới cuộc chiến Hoa Kỳ-Tây ban Nha.

Trong Thế Chiến, chúng ta dùng tuyên truyền để làm thanh niên chấp nhận nghĩa vụ quân sự. Họ bị bêu rếu để xấu hổ nếu họ không tòng quân nhập ngũ.

Việc tuyên truyền chiến tranh này trở nên thật đồi bại đến nỗi Thượng Đế cũng được đưa vào nó. Trừ vài ngoại lệ, giới tăng lữ tham gia vào sự cổ võ giết choc, giết, giết. Giết bọn Đức. Thượng Đế đứng về phía chúng ta… Đó là Ý Chúa rằng bọn Đức bị giết.

Và tại nước Đức, những mục sư tốt bụng kêu gọi người Đức giết quân Đồng Minh… để làm hài lòng cùng một Thượng Đế. Đấy là một phần của việc tuyên truyền tổng quát, được dựng nên để làm nhân dân ý thức được chiến tranh và sát nhân.

Những lý tưởng đẹp đẽ được vẽ lên cho đám thanh niên của chúng ta, những kẻ được gửi đi để chết. Đây là “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến”. Đây là “cuộc chiến để làm thế giới an toàn hơn cho dân chủ”. Không ai bảo họ, khi họ nhịp bước ra trận, rằng việc tiến ra mặt trận và tử trận của họ sẽ là lợi nhuận chiến tranh lớn lao. Không ai nói với các binh sĩ Hoa Kỳ này rằng họ có thể bị bắn hạ bởi các viên đạn được chế tạo bởi chính các người anh em của họ tại đây. Không ai nói với họ rằng các tàu mà họ dung để băng ngang đại dương có thể bị trúng ngư lôi từ các tàu ngầm được đóng với các bản quyền Hoa Kỳ. Họ chỉ được cho biết là nó sẽ là một cuộc phiêu lưu vẻ vang.

Rằng, sau khi nhét lòng yêu nước xuống cổ họng họ, người ta quyết định bắt họ cùng giúp đỡ chiến phí. Như vậy, chúng ta cho họ lương bổng rộng rãi ở 30 đô la hằng tháng.

Tất cả họ cần làm cho cái số tiền hoằng tráng này là để những người thân yêu lại phía sau, từ bỏ công việc, nằm trong chiến hào lầy lội, ăn đồ hộp (khi họ nắm được chúng) và giết và giết và giết…và bị giết.

Nhưng khoan đã!

Một nửa số lương đó ( nhỉnh hơn lương người thợ tán ri-vê ở xưởng đóng tàu hay nhân công trong một nhà máy đạn an toàn nơi hậu phương kiếm được trong một ngày) được lấy từ người lính để dùng nuôi gia đình hắn, để họ không thành gánh nặng cho cộng đồng của hắn. Rồi chúng ta bắt hắn trả cái tính như là bảo hiểm tai nạn-số tiền mà chủ nhân trả cho trong một nhà nước tiến bộ-cái đó tốn cho hắn 6 đô 1 tháng. Hắn còn lại chưa tới 9 đô.

Rồi, sự hỗn láo tối thượng của tất cả-hắn bị gần như ép gạt để chi trả cho đạn dược, quân phục, và lương thực của hắn bằng cách mua Trái phiếu Tự Do. Phần lớn lính không lãnh được tiền khi tới ngày lương.

Chúng ta bắt họ mua Trái phiếu Tự Do ở giá 100 đô và khi chúng ta mua lại nó-khi họ trở về từ chiến tranh và không thể tìm ra việc làm-ở giá 84 và 86 đô. Và các quân nhân đã mua số trái phiếu này trị giá độ 2 tỷ đô.

Vâng, người lính trả phần lớn hóa đơn. Gia đình họ cũng trả nữa. Họ trả nó trong cùng nỗi bất hạnh của người lính. Khi anh ta đau khổ, họ đau khổ. Đêm đến, khi hắn nằm trong chiến hào và nhìn miểng pháo nổ quanh hắn, họ nằm trong giường ở nhà và trăn trở thao thức-cha, mẹ, vợ, anh-chị em, con trai và con gái hắn.

Khi hắn trở về nhà thiếu mất một mắt, hay mất một chân hay với tâm thần vỡ vụng, họ cũng đau khổ-cũng bằng hay đôi khi hơn cà hắn. Vâng, và họ, cũng, đóng góp tiền bạc của họ cho lợi lộc của các tay làm súng đạn và giới ngân hàng và giới đóng tàu và chế biến và giới đầu cơ kiếm được. Họ, cũng, mua traí phiếu Tự do và đóng góp cho lợi nhuận của giới ngân hàng sau Hưu chiến trong …của giá cả dàn dựng của Trái phiếu Tự Do.

Và rằng ngay cả bây giờ, gia đình của những thương binh và của những người tàn phế tâm thần và những kẻ không thể nào tự hồi phục vẫn còn đang đau khổ và vẫn trả giá.

Chương 4-làm sao đập vỡ trò làm tiền nhớp nhúa này!

Ừ nhỉ, đó là trò làm tiền, đúng vậy.

Một thiểu số hưởng lợi-trong khi đa số phải trả. Nhưng có một cách để chặn nó lại. Bạn không thể chấm dứt nó bằng các hội nghị giải giới. Bạn không thể loại trừ nó bằng các cuộc hội thảo hòa bình ở Geneve. Những nhóm có lòng tốt nhưng thiếu thực tế không thể xóa bỏ nó bằng nghị quyết. Nó có thể bị đập tan một cách hữu hiệu duy nhất khi lấy lợi nhuận ra khỏi chiến tranh.

Cách duy nhất để đập tan trò làm tiền này là động viên nguồn vốn và kỹ nghệ và giới lao động trước khi nhân lực quốc gia có thể bị động viên. Một tháng trước khi Chính Quyển có thể tổng động viên thanh niên của quốc gia-nó phải động viên nguồn vốn và kỹ nghệ và giới lao động. Hãy để các sĩ quan và giám đốc và viên chức cao cấp của các nhà máy vũ khí và các tay làm súng đạn và các nhà đóng tàu và các nhà chế tạo máy bay và các nhà sản xuất của tất cả những gì khác mà đem lại lợi nhuận trong thời chiến cũng như giới chuyên gia ngân hàng và các tay đầu cơ, bị động viên-lãnh 39 đô hằng tháng, cùng mức lương với các anh em trong chiến hào lãnh.

Hãy để các công nhân trong các nhà máy này lãnh cùng mức lương-tất cả công nhân, tất cả chủ tịch, tất cả viên chức, tất cả giám đốc, tất cả nhân viên điều hành, tất cả chuyên viên ngân hàng-vâng, và tất cả tướng lĩnh và tất cả đô đốc và tất cả sĩ quan và tất cả chính trị gia và tất cả những người nắm các chức vụ dân cử trong chính quyền-tất cả mọi người trong quốc gia chịu giới hạn thu nhập tổng cộng hằng tháng không quá mức chi trả cho các binh sĩ trong chiến hào!

Hãy để tất cả các vua và tài phiệt và trùm áp-phe và tất cả các công nhân trong kỹ nghệ và tất cả các thượng nghị sĩ và thống đốc và thiếu tá trả một nửa của mức lương 30 đô hằng tháng tới gia đình và trả bảo hiểm rủi ro chiến tranh và mua Trái phiếu Tự Do.

Tại sao họ lại không?

Họ không phải đụng chạm với rủi ro bị giết hay thân thể què quặt hay tâm thần chấn thương. Họ không đang ngủ trong chiến hào bùn lầy. Họ không đói. Những người lính đói!

Hãy cho giơí tư bản và kỹ nghệ và lao động 39 ngày để suy nghĩ và bạn sẽ tìm thấy, đến lúc đó, sẽ không có chiến tranh. Chuyện đó sẽ đập tan việc làm tiền nhờ vào chiến tranh-Chỉ có nó và không có gì khác.

Có lẽ tôi hơi quá lạc quan. Giới tư bản vẫn còn tiếng nói. Vì vậy, giới tư bản sẽ không cho phép rút lợi nhuận ra khỏi chiến tranh cho tới khi nhân dân-những người phải chịu đựng và vẫn phải trả giá-quyết định rằng những người họ bầu vào các chức vụ dân cử sẽ

Một bước cần thiết trong cuộc đấu tranh đập tan trò làm tiền nhờ vào chiến tranh này là một cuộc trưng cầu dân ý giới hạn vào việc nên tuyên chiến hay không. Một cuộc trưng cầu dân ý không phải cho mọi cử tri nhưng chỉ dành riêng cho những người sẽ được kêu gọi chiến đấu và hy sinh. Thật là vô lý trong việc để một chủ tịch 76 tuổi của một nhà máy làm đạn hay một tay đầu não bình chân như vại của một ngân hàng quốc tế hay một tay trưởng phòng với cặp mắt láo lien của một nhà máy sản xuất quân phục-tất cả đám đó đều thấy viễn ảnh của lợi nhuận lớn lao trong trường hợp chiến tranh-bỏ phiếu xem quốc gia có nên lâm chiến hay không. Họ sẽ không bao giờ bị gọi nhập ngũ vác súng-ngủ trong chiến hào và bị bắn. Chỉ có những kẻ bị kêu gọi liều mạng của chính họ cho đất nước mới nên có đặc quyền bỏ phiếu để quyết định xem quốc gia nó nên lâm chiến hay không.

Có nhiều tiền lệ cho việc giới hạn bỏ phiếu đến những ai chịu ảnh hưởng. Nhiều tiểu bang của chúng ta có giới hạn trên những ai được quyền bỏ phiếu. Trong phần lớn, có khả năng đọc và viết là cần thiết trước khi bạn có thể bỏ phiếu. Trong vài tiểu bang, bạn phải có tài sản. Đó sẽ là một việc dễ dàng hàng năm cho các nam nhân đến tuổi đầu quân đăng ký nghĩa vụ trong cộng đồng của họ như khi họ làm trong nghĩa vụ quân sự thời Thế chiến và chịu khám sức khỏe. Những ai đủ tiêu chuẩn và vì vậy sẽ được gọi nhập ngũ trong thời chiến sẽ được quyền bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý giới hạn. Họ nên là những người có quyền quyết định-và không phải là Quốc hội mà ít ai ở vào giới hạn tuổi và trong đó càng ít hơn nữa những người đủ điều kiện thể chất để nhập ngủ. Chỉ những ai phải chịu đựng đau khổ mới có quyền đầu phiếu.

Bước thứ ba trong việc đập tan trò làm tiền nhờ vào chiến tranh này là đảm bảo rằng các lực lượng quân sự của chúng ta thật sự chỉ là các lực lượng tự vệ.

Vào mỗi cuộc họp của Quốc hội, câu hỏi của việc bành trướng hải quân được đề ra. Các đô đốc ghế xoay xa-lông của Washington (và luôn có thật nhiều tay như vậy) là các tay vận động hành lang rất khéo léo. Và họ khôn ngoan. Họ không gào lên “Chúng ta cần thật nhiều thiết giáp hạm để đánh nước này hay nước nọ” À không. Đầu tiên, họ cho biết rằng Hoa Kỳ bị đe dọa bởi một thế lực hải quân to lớn. Hầu như hằng ngày, các đô đốc này sẽ nói cho anh, hạm đội to lớn của kẻ thù giả định này sẽ tấn công và tiêu diệt 125 triệu người. Chỉ như vậy. Rồi họ bắt đầu kêu la cho một hải quân lớn hơn. Để làm gì? để chiến đấu kẻ thù? À, không, à không..chỉ để mục tiêu phòng thủ mà thôi.

Rồi, vô tình, họ tuyên bố diễn tập ở Thái Bình Dương..cho phòng thủ…À, há…

Thái bình dương là một đại dương to tát. Chúng ta có bờ biển dài ở Thái bình Dương. Các cuộc diễn tập sẽ xảy ra ngoài khơi, 2 hay 3 trăm dặm? À, không. Các cuộc diễn tập sẽ xảy ra 2 nghìn, vâng, có lẽ, 3 nghìn 5 trăm dặm ngoài khơi.

Người Nhật bản, một dân tộc kiêu hãnh, sẽ rất hài lòng ngoài tưởng tượng khi thấy hạm đội Hoa kỳ thật gần bờ biển của họ. Hài lòng gần như là cư dân California khi họ phải thấy bóng dáng qua làn sương buồi sớm, hạm đội Nhật bản tập trận ngoài khơi Los Angeles.

Các chiến hạm của Hải quân chúng ta, thật là rõ ràng, nên được giới hạn cụ thể, trong vòng 200 hải lý từ bờ biển chúng ta. Nếu luật đó được thông qua năm 1898, chiến hạm Maine đã không tới hải cảng Havane ở Cuba. Nó đã không phát nổ. Chiến tranh với Tây ban Nha đã không xảy ra và các mất mát nhân mạng sau đó. Hai trăm dặm thật là quá đủ, theo ý kiến các chuyên gia, cho việc phòng thủ. Quốc gia của chúng ta không thể bắt đầu một cuộc chiến tiến công nếu các chiến hạm không thể đi xa hơn 200 dặm tính từ bờ. Phi cơ có thể được phép bay xa tới 500 dặm từ bờ để cho mục tiêu thám thính. Và lục quân, không nên rời khỏi giới hạn lãnh thổ của quốc gia chúng ta.

Tóm lại: Ba bước cần được thi hành để đập tan trò làm tiền nhờ vào chiến tranh.

Chúng ta phải tách lợi nhuận ra khỏi chiến tranh.

Chúng ta phải cho phép thanh niên của đất nước những người sẽ cầm súng quyết định có nên tuyên chiến hay không.

Chúng ta phải giới hạn lực lượng quân sự của chúng ta vào các mục đích tự vệ quê hương.

Chương 5-Vất Bỏ đi chiến tranh!

Tôi không phải người khùng để tin là chiến tranh là chuyện của dĩ vãng. Tôi biết dân chúng không muốn chiến tranh, nhưng không ích lợi gì khi nói chúng ta không thể bị đẩy vào một cuộc chiến khác.

Nhìn lại quá khứ, Wilson tái đắc cử tổng thống năm 1916 trên diễn đàn tranh cử rằng ông ta đã “giữ chúng ta ngoài vòng chiến” và trong lời hứa với ngụ ý rằng ông ta sẽ “giữ chúng ta ngoài vòng chiến”. Và rồi, 5 tháng sau đó, ông ta hỏi Quốc Hội tuyên chiến với nước Đức.

Trong khoảng thời gian 5 tháng đó, dân chúng đã không được hỏi rằng họ có đổi ý không. 4 triệu người trai trẻ khoác quân phục và đi ra hay lên tàu chiến không được hỏi rằng họ có muốn ra đi để chịu đựng và hy sinh.

Rằng cái gì đã khiến chính quyền của chúng ta đổi ý thật bất ngờ?

Tiền

Một ủy ban đồng minh, chúng ta có thể hồi tưởng, thành hình trong thời gian ngắn ngủi trước khi tuyên chiến và kêu gọi Tổng Thống. Tổng Thống triệu tập một nhóm cố vấn. Vị chủ tịch ủy ban nói. Gạt ra ngoài ngôn ngữ ngoại giao, đây là những gì ông ta bảo Tổng thống và nhóm cố vấn:

“Không cần thiết để tự đánh lừa chúng ta thêm nữa. Lý tưởng phe đồng minh đang thất thế. Chúng tôi nợ các ông (Giới ngân hàng Mỹ, các nhà sản xuất đạn dược Mỹ, các nhà chế tạo Mỹ, giới đầu cơ Mỹ, giới xuất khẩu Mỹ) 5 hay 6 tỷ đô la.

Nếu chúng tôi thua (và nếu không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chúng tôi phải thua), chúng tôi, Anh, Pháp và Ý, không thể trả món tiền này…và nước Đức sẽ không trả.

Và rằng…” Nếu bí mật đã bị ngăn cấm khi nó liên quan đến việc thương thuyết chiến tranh và nếu giới truyền thông đã được mời tới hiện diện ở cuộc hội nghị đó, hay radio đã có mặt để trực tiếp truyền thanh, Hoa kỳ đã không bao giờ lâm chiến. Nhưng cuộc hội thảo này, như tất cả các bàn thảo về chiến tranh, được bao bọc bởi tấm màn bí mật dày đặc nhất. Khi thanh niên của chúng ta bị gửi ra trận, họ được cho biết rằng đó là “cuộc chiến để làm thế giới an toàn cho dân chủ” và “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến”.

Vâng, 18 năm sau, thế giới có ít dân chủ hơn là lúc đó. Ngoài ra, đâu phải là việc của chúng ta rằng Nga hay Đức hay Anh hay Pháp hay Ý hay Áo sống dưới nền dân chủ hay quân chủ? Rằng họ là Phát-xít hay Cộng sản? Vấn đề của chúng ta là bảo vệ nền dân chủ của chính chúng ta.

Và, rất ít, nếu có gì, đã được làm để bảo đảm chúng ta rằng Thế Chiến thật sự là cuộc chiến để kết thúc mọi cuộc chiến.

Vâng, chúng ta có hội nghị giải trừ binh bị và hội nghị giới hạn vũ khí. Nó không có nghĩa gì cả. Một cái đã thất bại, kết quả của một cái khác đã bị vô hiệu hóa. Chúng ta đã gửi các quân nhân chuyên nghiệp và thủy thủ và chính trị gia và nhà ngoại giao của chúng ta tới các hội nghị này. Và cái gì xảy ra?

Các quân nhân và thủy thủ chuyên nghiệp không muốn giải giới. Không tên đô đốc nào lại muốn không có tàu chiến. Không gã tướng lãnh nào lại muốn không có vị trí chỉ huy. Cả hai có nghĩa là người không có việc. Họ không muốn giải trừ binh bị. Họ không muốn giới hạn vũ khí. Và tại tất cả các hội nghị này, lấp ló đàng sau nhưng đầy uy quyền là, cũng là những tay chân mờ ám của những kẻ kiếm lời từ chiến tranh. Chúng muốn đoan chắc rằng các hội nghị này không giải trừ binh bị cũng không giới hạn vũ khí một cách cương quyết.

Mục đích tối hậu của bất cứ cường quốc nào tại các hội nghị này không phải là hoàn thành giải giới để ngăn chặn chiến tranh nhưng có lẽ là thêm vào vũ khí cho chính mình và giảm cho bất cứ kẻ thù tiềm tàng nào.

Chỉ có một con đường duy nhất để giải giới với dường như vẻ khả thi.Đó là tất cả các quốc gia tụ lại và tiêu hủy mỗi tàu chiến, mỗi đại bác, mỗi khẩu súng trường, mỗi chiến xa, mỗi phi cơ chiến đấu. Cho dù, điều này nếu thực hiện, vẫn chưa đủ.

Cuộc chiến tương lai, theo các chuyên gia, sẽ được thi hành không phải với thiết giáp hạm, không phải với pháo binh, không phải với súng trường hay với tiểu liên. Nó sẽ được chiến đấu với các hóa chất và hơi ngạt chết người.

Mỗi quốc gia đang tìm tòi và hoàn thiện một cách bí mật các phương tiện mới hơn và ghê gớm hơn để hủy diệt hàng loạt đối phưong. Vâng, tàu chiến vẫn sẽ được đóng, bởi các nhà đóng tàu cần kiếm lời. Và súng sẽ tiếp tục được sản xuất và thuốc súng và súng trường sẽ được chế tạo, vì các nhà sản xuất súng đạn phải kiếm được lợi nhuận lớn lao. Và các người lính, dĩ nhiên, phải mặc quân phục, để cho các nhà sản xuất cũng phải kiếm tiền lời chiến tranh.

Nhưng chiến thắng hay thảm bại sẽ được quyết định bởi chuyên môn và tài năng của các nhà khoa học của chúng ta.

Nếu chúng ta đặt họ vào việc sản xuất hơi độc và các công cụ cơ khí và chất nổ để hủy diệt càng lúc càng ác liệt, họ sẽ không có thời gian cho công việc kiến tạo của chuyện xây dựng một sự thịnh vượng lớn lao hơn cho tất cả mọi người. Bằng cách đặt họ vào công việc ích lợi này, chúng ta-tất cả có thể kiếm tiền nhiều hơn từ hòa bình hơn là từ chiến tranh-ngay cả những nhà sản xuất đạn dược.

Như vậy…Tôi nói, chiến tranh cút quỉ nó đi.

Minh Triết chuyển dịch