“Chiều này Em ra phố về, thấy đời là những chuyền xe, còn đây âm vang não nề.. Nghe Những Tàn Phai (TCS)

Vừa rồi bỗng dưng lại có một sự trùng hợp lý thú. Trong khi trao đổi trên mạng, tôi bị một người tham gia bù khú nhắc lại vài bản nhạc của Hà Thúc Sinh, một tập nhạc có cái tên hèn kém dại dột là “Tủi Nhục Ca”. Đâm ra mình lại vớ phải bực mình. Bực mình vì  ngay vào giữa thập niên 80s, khi đang còn hung hăng “chống cộng” trong đám MT (Việt Tân bây giờ), mà Tôi cũng đã xúi các “chiến hữu” vất mẹ cái lố nhạc rêu rao ngu xuẩn ấy đi. Đã hơn 20 năm không nhớ đến và chẳng nghe ai nói đến nữa.. Nay lại có người nhắc lại, mà dường như có cái vẻ rất hãnh diện và tự đắc về chính nghĩa Ngụy, tâm đắc với “tủi nhục ca”. Mẹ khỉ, Tôi có đùa với người bạn rằng cái dáng vẻ không Việt Tân cũng Việt Cộng!!!

BẠO NGƯỢC LOẠN TÂM

Đã bực mình như vậy, tưởng quên được, nay lại được đọc ngay hai bài viết “thống khoái” của hai nhà bình luận thời sự chính trị nổi tiếng của bọn Mỹ. Charley Reese và Paul Craig Roberts trên Antiwar  (America Is the Rogue Nation ) và Informationclearinghouse.(We, the Salt of the Earth, Take Precedence)  Một cái “bực mình” với cái não trạng nô lệ hèn kém Việt Nam của “ta” và một cái “thống khoái” với não trạng sòng phẳng can đảm của “người” , nó gặp nhau như duyên nghiệp âm dương. Cho nên đành phải ngồi bù khú vài hàng cùng độc giả.

Với não trạng của Việt Nam, không phải của riêng nhóm Ngụy mà bây giờ ngay cả đám con nhà phỉ Cộng cũng lây cái bệnh thánh hóa Mỹ. Với não trạng này bất cứ ai, quốc gia nào đối nghịch với Mỹ đều ngược ngạo gian ác. Vì căn bản Mỹ là chân chính, là biểu tượng của mọi cái “Đẹp” (Bố khỉ.. với bọn Việt ngụy ngục, thì “Mỹ” mà, rắm cũng thơm và cứt cũng dễ ngửi ).

Ấy thế mà mấy người bình luận gia Mỹ này lại vạch ra với đầy đủ bằng chứng là nước Mỹ mới là quốc gia ngược ngạo gian ác. Một quốc gia chuyên đi cuớp bóc lừa đảo và lấn chiếm người khác từ ngày lập quốc. Bọn nhà nước Mỹ chẳng hề áy náy lương tâm khi bỏ bom giết người miễn là hợp quyền lợi, “chính nghĩa” của Mỹ. Năm 1954, Mỹ cũng đã chuẩn bị bỏ bom nguyên tử trên đầu Việt Nam, Điện Biên Phủ. May mắn là Mỹ không thuận chiều với Pháp trong con đường “thực dân cũ” nữa, nên dân Việt Nam ta có cơ hội nhường vị trí duy nhất “vinh dự ăn bom nguyên tử Mỹ” cho dân tộc Nhật. Chuyện này khiến bọn ngụy VNCH tay sai Pháp Mỹ hậm hực đến bây giờ. Cứ xem thái độ của chúng nó trong vụ B52 dội bom nửa chừng xuân Bắc Việt  thì biết.

Cái thống khoái là không những đám thần nước mặn Mỹ này không ngửi nổi chính bọn Mỹ của họ, mà hai ông thần bình luận gia Mỹ nước mặn này còn lôi kéo thêm vào hai nhà bình luận và nghiên cứu tài liệu sử khác, một hữu một tả, đó là Pat Buchanaan (cựu nghị sĩ Cộng Hoà, ứng viên Tổng Thống, đảng bào thủ Mỹ) và John Pilger, nhà văn nhà báo, nhà làm taì liệu cánh tả mà đám Ngụy ngục rất “hờn căm không hối hận”. Ông giời Roberts, bản thân là cựu đảng viên Cộng Hòa thứ trưởng kinh tế thời Reagan, hiện nay là chuyên gia kinh tế khỉ gì đó, đã cùng các ông giời da trắng rặt Mỹ, vạch mặt luôn bọn đế quốc Anh, đặc biệt là thần tượng “vĩ nhân Winston Churchill”,  không chỉ với những bằng chứng hiện tại mà của vài trăm sử gia trước đó nữa mới chết người đọc…

Nhất là bọn độc giả  mỹ vàng ngụy và bọn thờ Mỹ. Bởi những sự thật được trình bày đã phá vỡ hình ảnh đẹp đẽ mơ tưởng của họ về một “nước Mỹ không có truyền thống đi chiếm đất” (Mẹ khỉ, Tôi nhớ có mấy thằng dân chủ gốc con cháu phỉ Hồ đã dám tuyên bố như vậy. Dĩ nhiên là có nhiều kẻ tung hô vỗ tay khen cái nhận định ngu xuẩn thiếu học như vậy.

Độc giả nghĩ xem, một dân tộc mà từng tin rằng một thằng người có bốn đồng tử, và có cả một con mụ “can đảm” mẹ đem con bịt nòng đại bác; rồi còn có cả một cái làng thổ tả nào đó dân chạy ra ghìm cánh trực thăng! Thì chuyện gì mà cái dân tộc này không tin, không vỗ tay? Một dân tộc như vậy thì cái mà họ không tin là chính họ thôi.!!!)

Mà thiên hạ đều có căn bệnh chung khó chữa trị là, khi họ đã tin vào một điều dối trá thì họ sẽ tấn công căm ghét bất cứ ai trưng bày ra sự thật. Chúng ta không cần đi đâu xa để chứng nghiệm điều này. Hãy cứ nhìn những phản ứng của đám thờ Hồ, từ bình dân, cán bộ, khoa bảng và ngay cả “văn gia nghệ sĩ sáng tạo” trên đất cái Bắc khí gió,  khi họ đọc và nghe những bằng chứng về Hồ! Họ choáng váng chống đỡ, rồi điên cuồng chống trả, nghiến răng tím mặt giơ tay.. Rồi, nếu còn chút ít liêm sỉ với chứng cớ, khi cùng kỳ lý thì luẩn quẩn một câu vọng cổ, câu hề chèo “xuống xề”: ” Người ta chứ đâu phải thánh, lúc đó, thời đó, điều kiện đó, thì phải dzậy!” Và hãy cứ nhìn lũ thừa kế bọn ngụy ở miền Nam phản ứng chống chế khi gặp phải những bằng chứng vạch mặt Diệm, Thiệu chế độ Ngụy VNCH, hay ngay cả sự đồi bại của “đồng minh” đế quốc Mỹ.. Cũng vậy..cũng thái độ bán khai man rợ không khác và cũng một câu vọng cổ “xuống xề” bào chữa như thế. Thế là huề cả làng!!!

Chẳng có đứa nào đủ chính niệm để thừa nhận rằng chúng ta là Người, dĩ không phải là Thánh, nhưng cũng chẳng phải là súc vật được!

Điểm độc đáo và kinh hoàng là cái tính “tự phong chính nghĩa” của bọn quyền bính, đại bản, bán khai bất nhân nó đều giống nhau từ cổ chí kim, từ đông sang tây. Khi nó tự phong chính nghĩa, độc quyền chính nghĩa nó tàn sát nhân mạng thoải mái, tỉnh bơ …vì có “chính nghĩa”. Chỉ có kẻ đối nghịch không chính nghĩa mới là tội phạm và không được giết người nào hết, chứ đừng kể là giết thoải mái. Kẻ có “chính nghĩa cao cả” thì giết người là ban phúc..cho kẻ chết… ít ra được chết dưới tay “chính nghĩa”… Mẹ bố khỉ, thì coi như là gián tiếp hy sinh vì đại nghĩa .. Kẻ có “chính nghĩa” được quyền nói láo, tra tấn, sát nhân, thủ tiêu.., Vì nói láo, tra tấn, sát nhân, thủ tiêu… vì “chính nghĩa”…

Tôi còn nhớ hồi tháng 5 (11-5) 1996 mụ ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái Albright khi được hỏi về việc nhà nước Mỹ Clinton và đám LHQ cấm vận Sadam Husein khiến khoảng 500,000 trẻ em Iraq chết, trong khi Sadam cứ béo ra, mụ ta trả lời: “Đó là một lựa chọn khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ đáng làm”  (It’s a hard choice, but we think it’s worth it.) Mẹ bố khỉ, bọn ngụy cũng lập luận như vậy. Và bọn phỉ Cộng khi được hỏi về những tội ác chúng nó đã vi phạm cũng trả lời như vậy. “Việc bắt bớ tra tấn là cần thiết vì chính nghĩa an ninh quốc gia, tồn vong, ổn định phát triển dân tộc”, câu nói “lý cớ” này ăn khách muôn thuở ngàn năm. Nó ăn khách muôn thuở không chỉ vì bọn cầm quyền man rợ, mà cả đám người nghe bán khai. Cái não trạng man rợ và bán khai của cả xã hội. Ngay giờ này, mà tôi vẫn còn nghe một số người Việt Nam vẫn gật gù tâm đắc với chính sách bắt “cải tạo” nhân sự chế độ ngụy sau 1975 của bọn phỉ VC. Loại người này ra vẻ “hiều biết chính trị”,  cho là vì “ổn định xã hội” V.C phải tàn nhẫn như vậy!

Cái tính man rợ của kẻ cầm quyền không làm Tôi ngạc nhiên, nhưng lý lẽ bán khai của người nghe, kẻ đồng thuận mới thật sự tởm lợm. Mẹ bố khỉ, nếu những kẻ “tâm đắc, cảm thông” mà bị bắt vào trại cải tạo như Hà Thúc Sinh, thì không hiểu bọn này còn khề khà ra vẻ “hiều biết chính trị” được nữa không? Đám Ngụy khi nói về những cái chết ở Khâm Thiên, Mỹ lai, Thanh Phong,  Cẩm Nê.v.v. thường vẫn nói.. “đáng tiếc nhưng đành phải hy sinh, làm vậy vì “đại cuộc” !!!.. Mẹ cha chúng nó, bọn phỉ VC khi nói về “trại cải tạo” về Mậu Thân, cũng bảo cần phải hy sinh như vậy để ổn định thành quả chiến thắng, trật tự cho cả xã hội!!!
Sao tôi tởm lợm cái lối “tâm đắc yêu sự hy sinh của người khác”  hay “yêu thích buộc người khác hy sinh”  như vậy. Nó vừa ngụy tín, và thể hiện sự đốn mạt bất nhân trong tâm thức và nọa tính trong tư duy. Nếu gia đình con cái chúng nó nằm trong 500,000 trẻ em Iraq, thì chúng nó làm gi? Nếu gia đình chúng nó, và chính bản thân chúng nó, nằm ngủ ở Hyroshima, Nagasaki năm 1945, hoặc ngủ trong đêm B52 dội bom ở Khâm Thiên, Bạch Mai – hay trong trận càn quét trong làng Mỹ Lai, Cẩm Nê, hay bị V.C lôi xuống tự đào hố để bị đập đầu ở Huế thời Mậu Thân, hay vào “cải tạo” hoặc ở trại tù Abu Ghraib hay Watanamo thì chúng nó mở miệng nói gì?  Gật gù tâm đắc “cần phải hy sinh” chăng? Và khen ngợi bọn đao phủ quyền bính, Nhà nuớc là hành xử chính đáng, nữa chăng?

Tôi đã phải gằn giọng với một đám Tầu ở đại học UNSW về cái trầm trồ Vạn Lý Trường Thành. Mà kể cả đám sinh viên “du khách” trong đó có cả những thằng, những con thuộc đám nòi giống dân “An Nam đô hộ phủ” nữa cơ đấy . Chúng nó trầm trồ “bức tường ngăn thỏ” và chính đáng hóa “Tần Thủy Hoàng”.. Nếu không vậy làm sao có “kỳ quan”? Âu cũng là hy sinh hữu ích cho đời sau! Mẹ tiên sư , Tôi gằn giọng hỏi thế chúng mày nghĩ gì, nếu chúng mày sống ở thời đó, bị bắt đi làm phu, từ bỏ gia đình ấm êm, bị đánh đập chết gục dưới chân tường vĩ đại? Hy sinh là ý thức tự nguyện nhân bản, không thể gọi là hy sinh khi dùng bạo lực và  lừa dối buộc người khác thực hiện “hy sinh”.

Về điểm não trạng hy sinh “địch ta” này, chúng ta thử bù khú thân phận “tủi nhục” của Hà Thúc Sinh tí xem sao!

TỦI NHỤC CA!

Ai đã nghe qua “Tủi Nhục Ca” của Hà Thúc Sinh, một sĩ quan thuộc chế độ ngụy VNCH bị bắt đi cải tạo sau 1975, đều thấy “tủi nhục” chăng? Mẹ khỉ, Tôi mà bị hành hạ tra tấn, tôi đếch tủi nhục. Tôi sẽ phẫn nộ!. Phẫn nộ là cái giá rẻ nhất! Và Tôi đã và đang phẫn nộ. Ấy nhưng cái ông nhà ngụy này lại ngược đời nhìn xuông có một chiều! Đây mới là cái não trạng Tôi cần bú khú. Vì trong tất cả bài hát cao rao “tủi nhục” này, Hà Thúc Sinh mặc nhiên coi ông ta là chính nghĩa, cái chế độ ông ta phục vụ là chính nghĩa, và chỉ có bọn phỉ cộng là gian ác…

Dĩ nhiên là bọn phỉ Cộng gian ác tàn độc, và nó tàn độc như tất cả mọi chế độ tàn độc. Nhưng đâu phải chỉ có phỉ Cộng gian ác tàn độc? Trước và sau khi phỉ Cộng tràn vào Nam thì sự tàn độc phi nhân nó cũng dầy dẫy.. Nhưng Hà Thúc Sinh đâu có nói đến.. Một sĩ quan của một chế độ tồi bại độc tài, tay sai Mỹ, mà lại là “hồn thơ dễ vỡ” nghệ sĩ sáng tạo, mà lại không thấy được tồi bại ngay tại chỗ trước mắt, phải đợi đến khi bị “cải tạo” mới thấy… và cũng chỉ thấy được cái tồi bại của Kẻ Thù đối phương, và chỉ là tồi bại của kẻ thù thôi! “…Đêm đấu tố và thủ tiêu, đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu… đêm cáo chung tự do nhân quyền“… Nghe nó bi phẫn mà đau đớn…cứ tưởng nếu không ở tù cải tạo với phỉ Cộng thì …. ở Xã hội Việt Nam tự do nhân quyền nó cứ chan hòa ra trong đêm như đứa bé đái dầm…hoăc “ướt dầm như đít đĩ”!

=

Hà Thúc Sinh bị kẻ thù bắt làm tù nhân, rồi thấy “tự do nhân quyền” cáo chung. Hà Thúc Sinh đã thấy gì khi Pháp cai trị , rồi tái chiếm Việt Nam? Hà Thúc Sinh đã thấy gì khi chế độ ngụy giam cầm tra tấn kẻ tình nghi tội phạm, (chiến dịch Phụng Hoàng)  hay ngay như đối xử với “lao công đào binh”? Hà Thúc Sinh đã nghĩ gì khi thấy lính Mỹ, người Mỹ đối xử với người dân Việt Nam, hay ngay lính Mỹ trắng đối sử với lính Mỹ đen, ngay trên chiến địa Việt Nam?

Rất chan hòa tự do nhân quyền chăng?

Hà Thúc Sinh thấy gì ở Cẩm Nê, Mỹ lai?  Trước khi Hà Thúc Sinh bị tù cải tạo, người dân Việt Nam như ở Mỹ Lai, Thanh Phong Cẩm Nê v.v nằm ngủ yên với tự do nhân quyền tràn cả gối chăn??? Hoặc là Dân chúng Iraq hôm nay tự do nhân quyền chan hòa khắp ngõ ngách…?!?!?

Không hiểu trong đám người Iraq có ai làm “Tủi Nhục Ca” hay không? Nhưng mấy năm nay Tôi chỉ thấy họ Phẫn Nộ, họ ôm bom và chiến đấu, dù bị nhục mạ gọi là khủng bố phiến quân. Kháng chiến Việt Nam như cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, hay ngay như cụ Phan còn bị nền văn minh Tây Pháp gọi là bọn “khủng bố bán khai”  (la terreur barbare) cơ mà! Bọn Washington, Thomas Paine, Jefferson cũnng bị bọn đế quốc Anh gọi như vậy. Nelson Mandela cũng bi bọn da trắng Nam phi gọi như vậy… Con bà nó, chữ nghĩa “chính thống, chính qui” nó chẳng có ý nghĩa mẹ gì.!!!

Mà thôi… đay nghiến như vậy cũng chẳng ích gì..Có điều trong “Tủi Nhục ca” Hà Thúc Sinh có nói “Nếu tôi còn sống mà trở về… hẳn là Tôi sẽ ra đi…một người còn sống như Tôi, tự so thơm tho trong giòng máu…v.v” Mẹ bố khỉ! Một gã sĩ quan, thuộc quân đội lính ngụy, chế độ ngụy VNCH, mà có tự do thơm tho trong giòng máu??? Hà Thúc Sinh có chống độc tài quân phiệt ngày nào không? Hà Thúc Sinh có chống sự gian trá bịp bợm bất nhân của Mỹ, ít nhất là ở ngay tại đất Việt Nam không, khi đối xử với người Việt Nam, ít nhất là đối với nhà nước ngụy VNCH của Hà tiên sinh hay không? Tôi thấy hình như Hà tiên sinh không được thành thật chỗ này thì phải.

Hỏi vậy thôi, chứ bố khỉ.. mình biết tỏng nhau cả mà. Với chúng ta, não trạng “chúng ta” thì tội ác hay lẽ phải, đều phải có đồng phục! Có nghĩa là bộ đồng phục, mầu cờ nó quyết định tội ác hay lẽ phải.. Nếu cùng màu cờ sắc áo thì.. dù sao đi nữa cũng là lẽ phải, kể cả ức hiếp người dân, đánh lính, đốt làng, tra tấn, bắt bớ thủ tiêu, và kể cả độc diễn.. Khác màu cờ sắc áo..thì dù sao đi nữa vẫn là tội ác. Căn bản chúng ta, phe ta là chính nghĩa! Căn bản phe địch là bất chính. Chấm hết. Mẹ khỉ, tôi nghe như mình đang ở sân trường tiểu học trong giờ ra chơi!!!

Tôi, thằng Nguyên Khả to mồm này chỉ là một gã ham chơi, bốc phét ít học, không phải nhà văn, nhà thơ, dù cũng biết viết, biết làm một hai bản nhạc, vẽ một vài bức tranh cho con gái (cái đám con gái này, kể ra cũng khôn, chúng nó không bị tôi dụ khị, vất mẹ hết của Tôi vào thùng rác, khổ vậy. Và từ đó thề không vẽ. không làm nhạc làm thơ gì nữa).  Nhưng dù vậy tôi vẫn hiểu được một điều rất trân trọng của một nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tạo gỉ gì gi  là đức “Thứ” (恕) Cái khả năng hay đức tính mà Khổng Tử muốn các học trò của ông nên có, nghĩa là cái khả năng mẫn tiệp đặt được mình vào hoàn cảnh của người, và khả năng suy cái khổ, cái phúc của mình ra đến tha nhân,  để thâm cảm tha nhân, nhìn sâu, suốt được vấn đề của người, nỗi đau của người dù chính mình chưa kinh qua.  Chứ một nhà văn nhà thơ lại không thấy gì, không cảm được đau khổ bất hạnh của người chung quanh, rồi phải đợi đến khi chính mình bị đọa đầy mới “biết”, nhưng lại không “hiểu” hết được nguyên nhân… thì quả thật..hết chuyện.

BÁT NƯỚC ĐÁI và CHÉN ĐẮNG

Bởi thế cho nên Tôi chỉ thở dài! Chỉ còn biết thở dài! Một người đã viết được câu “Chén đắng Việt Nam đã giúp Tôi cảm nhận về một sự thật thê thảm mà khi sống êm đềm, người ta hay chạy trốn nó, kể cả những nghệ sĩ sáng tạo...”  Cuối cùng Hà Thúc Sinh cũng chẳng học được gì.. bởi cái mà Hà Thúc Sinh nhìn thấy và gọi là “chén đắng Việt Nam” nó chưa phải là chén đắng thật của một Việt Nam, nó chỉ là một chén nước đái khai…của những đứa man rợ thắng trận trở thành những tên cai tù, và bắt những thằng từng hung hăng tàn bạo nhưng thất trận, trở thành tù nhân, phải cầm mà uống. Cái chén đắng của cả dân tộc Việt nam đã và đang uống không hề nằm trong Tủi Nhục Ca của tiên sinh họ Hà ..Vì Hà Thúc Sinh không thấy, chưa đủ tầm nhận thức để thấy nó… hoặc có thể sau bao năm ở Mỹ, đi ăn đi học và sống nhiều đã thoáng thấy … nhưng rồi hoảng sợ im lặng quay lưng. Cái hoảng sợ của kẻ mê muội lỡ tin vào ảo tưởng (illusion) bị vỡ mộng, rồi co quắp.

Bởi nếu thấy nó, uống đủ vị đắng của nó… vị đắng đầy đủ của chén đắng Việt Nam, một người Việt Nam, nếu còn vị giác để biết đắng, biết cay, còn đủ óc để biết phải, biết trái, nhận ra đủ thành tố và nguyên nhân của chén đắng, chắc chắn phải phẫn nộ…. phẫn nộ chứ không tủi nhục hờn oán kiểu lỏn thỏn “chống cộng.”

PHẪN NỘ

Việc đàu tiên là phẫn nộ với chính mình. Phẫn nộ tại sao chính mình lại để bị lừa phỉnh bới chính anh em đồng chí, đồng rận, đồng minh, lãnh tụ, lãnh đạo của mình! Phẫn nộ vì tại sao cho đến nay chúng ta lại tiếp tục dối trá lừa nhau, bịp nhau để cả dân tộc mình tối tăm ngu dốt. Phẫn nộ tại sao trước đó mình không thấy? Thấy mà không nói? Nói mà không nói hết, để đến hôm nay cả dân tộc mắc chứng loạn tâm bạo ngược với chính mình?

Tại sao lại gọi là bạo ngược vói chính mình? Bời vì mình không trọng mình nữa:  Mình không thấy mình bị nhục. Không thấy mình bị khinh. Và mình khinh bỉ chính mình đến độ thánh hoá những thằng lừa bịp hãm hại mình. Có đúng không?  Không bạo ngược, khinh bỉ chính mình, thì tại sao lại mặc cảm xấu hổ với cả cái tên của mình; xấu hổ với mầu da, mầu tóc của mình; xấu hổ với tiếng nói ngôn ngữ của mình; xấu hổ với gốc tích của mình?

Và cũng chính vì vậy cho nên không thấy được những thằng mà mình đang tung hô thần thánh, mang ơn, lại chính là thủ phạm của chén đắng Viêt nam. Và hậu quả là cho đến nay, tất cả chúng ta đau nặng căn bệnh ức chế loạn tâm của  não trạng hàm ơn chứa oán từ nhận thức nhược tiểu nô lệ: đầy hận thù đòn vọt với kẻ đồng cảnh ngộ, nhưng lại thụ nhận ơn nghĩa ban phát từ kẻ gia hại đánh đập cai trị mình.

Hà Thúc Sinh đã không phẫn nộ, bởi nhầm lẫn. Cái nhầm lẫn lớn nhất của những người Việt Nam mắc chứng bạo ngược là cứ ngỡ rằng mình “tự do thơm do trong giòng máu”. Trong khi thật ra là mình chỉ “tự do phục vụ” chế độ của mình, phe mình. Con bà nó, cứ nói đến điều này lại không nhịn đưọc. Bố khỉ cái đám dân ở với Phỉ Bắc Việt còn dám huyênh hoang bảo thời tên phỉ già Hồ Chí Minh còn sống “rất là tự do dân chủ” nữa cơ! Trong khi bọn khoa bảng Ngụy thì ca ngợi “cu Diệm rất dân chủ tự do”, kể cả Thiệu dù đắc cử một mình như Mugabe của Zimbabwe mới đây vậy (30-6-2008), Mugabe tuyên bố đây là dân chủ chọn lựa 95%.. và vẫn đi dự đại hội quốc tế, vẫn được kính trọng mời ngồi bàn việc! Tiên sư nó cái gọi là “dư luận quốc tế”. Hà tiên sinh, Hà thi nhân, “một tâm hồn dể vỡ”, tôi nghĩ chắc đã nát như tương bần nên không thấy gì cả!!! Tiên Sinh là nạn nhân của băng hoại bạo ngược, nhưng lại không suy ra được sự đau khổ của những nạn nhân khác!

Bởi muốn sống như một con người thật sự có “tự do thơm tho trong giòng máu”, phải can đảm để phẫn nộ và dám nhận hậu quả mà không trốn chạy. Một người có “tự do thơm tho trong giòng máu”, thì ở đâu họ cũng có tự do, ở đâu, dưới hoàn cảnh nào cũng chống bạo ngược, khinh bỉ độc tài và bênh vực nạn nhận, bảo vệ dân chủ công bằng, lẽ công chính. Bởi họ có đức Thứ, và sự an nhiên tự tại không biết sợ. Vì tự do chính là quí trọng giá trị của chính mình và không biết sợ.

Không biết sợ cho nên mới tự do..bỏi tự do nó đi từ trong nhận thức giá trị nhân phẩm ra đến hành xử can đảm, dám bảo vệ giá trị của chính mình chống lại bất cứ hành xử nào vi phạm giá trị của mình , phẫn nộ với nó, dù nó đến bất cứ từ đâu, bất cứ từ ai, kẻ nào. (Thị thích vạn thặng chi quân, nhược thích hạt phu (視剌萬乘之君若剌褐夫) ” Khinh giết một ông vua có vạn chiến xa thì cũng không khác việc giết một kẻ hèn mạt, (khi bị một trong hai kẻ này xúc phạm mình)”(Công Tôn Sửu thượng:2). Được như vậy thì mới dám mở miệng là “tự do thơm tho trong giòng máu”; và ở đâu cũng tự do, sống cách đây mấy ngàn năm với bọn phong kiến bạo ngược cũng tự do, chết cũng tự do. Ông tu sĩ Nguyễn Văn Lý quả thật tự do, dù ở trong tù, bị bịt miệng vẫn dám nói. Đồng ý với những gì ông ấy nói hay không, không quan trọng. Còn không được như vậy thì ở đâu cũng chỉ hèn hạ lặng im làm nô lệ tay sai. Và cuối cùng mà nói, chẳng qua chỉ là việc chọn lựa chủ nhân để phục vụ. Chứ không phải là tự do trong giòng máu.

TỰ DO THẬT SỰ TRONG GIÒNG MÁU LÀ ĐÂY

Mà thôi, mẹ kiếp cái tính thù vặt, đay nghiến nó dai như đỉa đói. Có vài bản nhạc vớ vẩn mà dài giòng quá lắm! Trở lại chuyện của mấy gã thần giời da trắng Mỹ. Mấy gã này mới thật sự là “tự do thơm tho trong giòng máu.” Họ không đơn giản chỉ vạch mặt những sai trái đã quá rõ ràng của chế độ Anh-Mỹ hiện tại, mà độc đáo ở chỗ họ vạch trần tiến trình đế quốc hoá của Mỹ để cảnh tỉnh người dân Mỹ và thế giới. Họ có cái nhìn lại chính họ một cách “trắng trợn” mà người Việt chúng ta thường gọi là “bọn phản động, phản bội, phản quốc, chống lại nhà nước và dân tộc”. Mẹ tiên sư bố chúng nó, bây giờ cứ nghe đến những cụm từ này phát mửa!!!

Sự lạnh lùng của người Mỹ đối với những dân tộc khác nó đi từ  cái tính “Mỹ Biệt Lệ “, cái niềm tin cho rằng người Mỹ được ân sủng mặc khải với một nhiệm vụ đặc biệt là áp đặt mực thước của họ lên tất cả những người khác trên thế giới. Giống như nhóm cách mạng Pháp (Robespiere, Danton thời 1789 tàn sát bất cứ ai khác biệt), người Mỹ dường như chẳng quan tâm là họ đã giết bao nhiêu người trong tiến trình quảng bá cái chủ nghĩa biệt lệ của họ.”  (The indifference of Americans to others flows from “American exceptionalism,” the belief that Americans are graced with a special mission to impose their virtue on the rest of the world.  Like the French revolutionaries, Americans don’t seem to care how many people they kill in the process of spreading their exceptionalism.)

Sử Mỹ có cái tên rất “thánh” để gọi chủ nghĩa này là Định Mệnh Chúa Đã An Bày (Manifest Destiny). Cho nên họ tàn sát người khác cũng là vì Chúa, ý Chúa, và đó là chính nghĩa (kill gooks for God, lính Mỹ đến Việt Nam trong tâm thức này).
Cái độc đáo là các gã “phản quốc chống Mỹ” này, đã phân tích chỉ mặt cả bọn nhà nước các ban ngành, và báo chí đã phối hợp nhịp nhàng để quần chúng tin là nhà nước của họ làm đúng và rất nhân đạo; Lãnh tụ rất vĩ đại anh hùng.. Sau hơn 60 năm đầy dẫy phim ảnh thời sự, báo chí, ca ngợi đồng minh Mỹ, chính sách Mỹ, nhất là Hồ Ly Vọng.. lãng mạn hóa hình ảnh siêu tuyệt Mỹ khắp địa cầu, đi vào trong sách vở..trường học.. đã hơn 60 năm.. Nay bỗng dưng lại bị lật ngược với đầy đủ bằng chứng bởi chính công dân Mỹ, công dân thượng thặng, trí thức khoa bảng Mỹ, thì quả thật sự “căm hận” của đám quần chúng vẫn thần tượng “quá khứ giả tuởng đẹp đẽ” chắc chắn phải bàng hoàng và vũ bão. P.C Roberts cũng lượng được điều này.

Chúng ta chẳng lạ gì điểm này. Ngày xưa ngay như Dương Thu Hương cũng vội vã ca ngợi Mỹ và còn ra cái điều hiểu biết lên án những ai “chống Mỹ” nữa cơ. Dương Thu Hương còn bảnh đến độ không thèm dùng tiếng Việt như tôi, mà “điệu đàng” gọi đó là ăng-ti Am Me Ri Càn Ní Dùm (anti-Americanism). Tôi nhớ là có viết một vài lời “tế nhị” với chị to mồm này. Dĩ nhiên là tế nhị kiểu Nguyên Khả.

Điều đáng chú ý là những người như Pilger, Buchanaan, Roberts, Reese, Chomsky v.v họ vẫn cứ can đảm lạnh lùng tiến bước, bất chấp những lăng mạ của đám báo chí tay sai, những phiền nhiễu hăm dọa của bọn nhà nước an ninh; họ kiên nhẫn bền bỉ trưng bày bằng chứng , sự thật… và vẫn cứ tỉnh như ruồi!

Một trong những nhận định để cảnh cáo nhân loại rõ ràng và mạnh mẽ nhất, chính là vạch rõ mục đích tối hậu của Mỹ trong cách định nghĩa “kẻ thù hăm dọa” Mỹ: “Mối đe dọa được định nghĩa rất bao quát. Nó đương nhiên có nghĩa là (bất cứ ai có) cái khả năng cưỡng lại  sự khống chế độc quyền của Mỹ (“Threat” is broadly defined.  It appears to mean the ability to withstand the imposition of US hegemony.)

Như vậy thì trong tương lai, Mỹ nó sẽ đánh đủ thứ các quốc gia, hết thằng này đến thằng khác như đã và đang xảy ra. Và nếu một Việt Nam tự do dân chủ, trong tương lai mà vươn lên phát triển toàn diện kinh tế chính trị khoa học kỹ nghệ quân sự quốc phòng v.v  thì rõ ràng sẽ là “mối đe dọa” cho Mỹ. Chẳng phải vì chúng ta sẽ đánh Mỹ trả thù, hay đi chiếm nước Mỹ dành gái tóc hoe của Mỹ, mà chỉ vì chúng ta có tự trọng dân tộc, không khuất phục, không muốn dân tộc mình làm đầy tớ người; chúng ta muốn bảo vệ quyền lợi danh dự của chúng ta, trao đổi bình đẳng với tất cả mọi quốc gia.  Chúng ta muốn thật sự trao đổi văn hóa kinh tế chứ không muốn chỉ bị “trao” và phải “nhận” văn hoá kinh tế một chiều từ bất cứ ai, Tầu hay Tây, Mỹ hay Nhật.  Như vậy thì chắc chắn với não trạng Mỹ là Biệt Lệ, tự phong chính nghĩa, lối Mỹ là con đường duy nhất của nhân loại, Việt Nam sẽ phải là mối đe dọa cho Mỹ rồi..

May mắn là hiện nay nhiều dân tộc xã hội, dù còn yếu nhỏ bé, như Hàn, Mã v.v vẫn không đến nỗi đần như đám phỉ ngụy cắm đầu chọn phe. Họ chọn dân tộc họ làm nền tảng để sinh tồn và phát triển.. Để xem lịch sử sẽ đi về đâu. Chắc chắn lịch sử không dừng lại ở thời đại nào hết. Biết đâu vài trăm năm sau? Bởi các đế quốc đã từng lên xuống, xã hội loài người biến đổi từng trăm năm, có những giai đoạn cả ngàn năm…

Mà thôi, đó là chuyện mấy gã thần giời bá vơ Mỹ nó “phản quốc, phản dân” của nó. Bù khú qua lại thì cũng quay lại chuyện của chúng ta. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân mà.

CON VẬT NGƯỜI và NỀN NHÂN BẢN

Chúng ta là con người, con người dù ở đâu, thời nào cũng đều được cấu thành bởi cùng những thành tố, và có căn bản là loài vật. Loài vật với đầy đủ bản năng tự nhiên, sinh tồn, và truyền giống (ontological & basic instincts). Nghĩa là đói ăn, khát uống, động cơn thì tìm cách thỏa mãn tính dục v.v  Nghĩa là cuộc sống không có ý nghĩa trừu tuợng tinh thần gì ngoài những nhu cầu tự nhiên vô thức.  Nhưng qua bao nhiêu triệu năm tiến hóa, sinh vật hai chân đã đạt được bộ óc trong cái đầu để trở thành “người hiểu biết” (homo sapiens=wise man); rồi từ đó nhận thức cao hơn, có khả năng trừu tượng hóa, dự phóng hóa tương lai tích tụ quá khứ.. xác nhận và minh định được tự thân, mối tương quan với đồng loại, và tạo một ý nghĩa cho cuộc sinh tồn của chính mình gọi là NHÂN BẢN.

NHÂN BẢN , là căn bản con người, Con Người được hình thành từ sự vượt lên trên những bản năng của sinh vật. Chúng ta đã mất cả triệu năm để điều chỉnh bản năng sinh vật để cho cuộc sinh tồn có ý nghĩa. Chúng ta trở thành Con Người không phải vì chúng ta cải tiến vật chất, xử dụng vật chất, mà chính là chúng ta đã cải tiến cái hành xử bản năng của chúng ta, đặt ra GIÁ TRỊ TINH THẦN cho những bản năng này. Chúng ta ăn không còn chỉ là để khỏi chết đói. Chúng ta uống không còn chỉ là để không chết khát; và chúng ta hành động tình dục không còn chỉ là tác động của cơn động tình hoá tính với bản năng di truyền. Chúng ta ăn, uống để tận hưởng thú vị của sự cộng hưởng vị giác từng món ăn, cách trình bày, và trên hết là cảm quan, tình cảm của chúng ta, của người nấu nướng, người cùng ăn, của sự chan hoà và san sẻ.

Chúng ta không còn “tự nhiên” như loài sinh vật cắm đầu vào ăn ngay cả bên xác chết hay sự đau khổ của đồng loại. Mà nhiều lúc chúng ta còn nhịn bớt, chịu đói để san sẻ với đồng loại, bất chấp sự đe dọa của đói khát. Và chúng ta còn có thể chết cho “ý niệm nhân bản” bằng cách nhịn đói nhịn khát để bảo vệ giá trị tinh thần của  Con Người.  Chúng ta không những đã biết chọn lựa đối tượng để hành xử tình dục mà còn biết trân trọng giới hạn sự đòi hỏi tính dục để tránh đau khổ cho đồng loại. Chúng ta đã đặt hành xử bản năng tình dục đằng sau cái giá trị mà chúng ta đặt ra gọi là TÌNH YÊU, trong đó tính trân trọng, chăm sóc, bảo vệ, chăm chút miệt mài một con người trong muôn triệu con người. Tình dục với Con Người không còn là bản năng sinh tồn, truyền giống, mà nó là sự thể hiện của yêu quí trân trọng có chọn lựa, san sẻ chan hòa khoái lạc thể xác với một con ngưòi được tuyển chọn rất trân trọng. Chỉ có Con Người mới có câu hỏi “Tại sao thế giới đông người Ta chỉ thấy có riêng Ngươi?”

Nghĩa là chúng ta đạt đến độ đi ngược lại được bản năng thiên nhiên của sinh vật. Chúng ta biết cưu mang tận tụy với sự sống, sự hiện diện của tha nhân. Và chúng ta cũng dám hủy sự sống của chính mình để bảo toàn sụ sống của tha nhân trong ý nghĩa giá trị tinh thần Nhân Bản.  Đó là Nhân Bản, một nền Nhân Bản luôn luôn và thường trực bị đe dọa lôi kéo trở về thời thái cổ sinh vật. Đó là lý do thời nào chúng ta, xã hội chúng ta cũng có những Con Người nhắc nhở thường xuyên về giá trị Nhân Bản. Con Người khi nhận ra mình, minh định được mình, đặt ra được giá trị Nhân Bản để tạo ý nghĩa cho cuộc sinh tồn tử sinh, đồng thời đã tạo ra một kẻ thù thường trực: Chính chúng ta. Chúng ta phải chiến đấu thường trực với chính mình, chính bản năng tự nhiên của chính mình để giữ vững giá trị Con Người của mình.

Cuộc chiến đấu Nhân Bản này, hình như thua nhiều hơn thắng. Chiến tranh, băng hoại v.v vẫn tiếp diễn ở mức độ tinh vi và bao quát hơn. Người ta đang đi trở lại dần về phía sinh vật, và thất bại ở chỗ: trở về hành xử sinh vật nhưng lại không còn tự nhiên đưọc như sinh vật. Chúng ta không còn thuần hóa tự nhiên vô tư với bản năng như loài vật được nữa.

Tội ác hay Lẽ Thiện nó là do chúng ta đặt ra để tạo ý nghĩa cho cuộc nhân sinh. Cho nên ở cực trên chúng ta không là Thánh, và ở cực dưới, chúng ta không thể là con vật. Chúng ta là con người. Một Con Người có khả năng và sự lựa chọn để làm một hành động Thánh Nhân, Nhân Bản hay làm một hành động Thú Vật.

Những hành động chọn lựa này là khả năng của tất cả mỗi cá nhân chúng ta, Anh, Úc, Pháp, Mỹ, Tầu, Việt, Nhật Hàn, Phi, Ấn. Trắng Vàng Đen Nâu. Tội Ác và Lẽ Thiện không có màu da, chủng tộc; không có phái tính; không có tên tuổi chính thể.

Thật sự miên man rồi cũng không biết nên chấm dứt bài bù khú như thế nào đây?

Trịnh Công Sơn chiều qua ra phố, trở về thấy đời mình là những chuyến xe. Suốt ngày và suốt năm từ đó vẫn còn nghe âm vang.. có lẽ ông Sơn còn nghe âm vang nó dằn vặt đay nghiến ngay cả nơi vùng trong suốt của đêm đem trước mặt khi chưa thể chìm vào giấc ngủ.

CHUYẾN XE MỘT CHIỀU KHÔNG TÀI XẾ

Các bạn thân mến, hôm nay Tôi ra phố về, bỗng nhận ra cuộc đời mình chỉ là một chuyến xe. Một chyuến xe không bao giờ trở lại, con đường chỉ có một chiều. Một chuyến xe với rất nhiều trạm nghỉ, và trên đó người ta thay đổi tài xế, kẻ lên người xuống nưòm nượp và lặng lẽ, mà người ta, những lữ khách đồng hành của tôi thờ ơ không ai hay biết. Họ giành ghế, chia phe rồi kết bạn, kết thù. Cứ như đòi đời kiếp kiếp đến nỗi những nơi nghỉ dừng chân, mà họ vẫn ngỡ là nhà, chăm chút rồi giành giật gấu ó… để  rồi lại bỏ đó mà đi tiếp. Họ thờ ơ đến nỗi không nhận ra vẫn chiếc xe ấy chỉ là đổi sơn, đổi tài, khách lữ hành kẻ cũ người mới, kẻ đến ngưòi đi, tất cả như một thoáng, thế thôi…

Nó chỉ là một chuyến xe duy nhất, đi và đi mãi không quay lại. Và thật ra chuyến xe này không cần tài xế. Chuyến xe tự nó, nó vẫn cứ đi và đi mãi và sẽ đến nơi chốn không bao giờ thay đổi, nhưng chẳng ai hay biết.

Tôi đã quyết định không để ai làm tài xế nữa, và cũng không quan tâm đến những ai nhận mình là tài xế chuyến xe này nữa. Tôi muốn nói với mọi người chung quanh Tôi, đây là chuyến xe duy nhất không bao giờ quay lại, và như vậy đừng để những gã giả vờ làm tài xế, thay nhau lừa dối đe nẹt mình. Hãy làm chủ chuyến xe duy nhất này và vui với nhau khi còn thấy nhau, dẫu là giả hợp. Bởi chớp mắt giả hợp sẽ tan biến, và có kẻ không còn ngồi chung với chúng ta nữa. Họ chấm dứt cuộc hành trình bất ngờ không từ biệt, đến nơi nhưng không thấy đích. Và chớp mắt chính chúng ta, rồi cũng sẽ chấm dứt cuộc hành trình miên viễn không định trước.

Tất cả Nhân Bản cũng chỉ có ngần ấy thôi…Các đại hiền triết của nhân loại xưa nay, cũng chỉ mong mỏi kỳ vọng mọi người sống xứng đáng với ngần ấy thôi… thấp thoáng đã trên chục ngàn năm trùng điệp với cuộc tử sinh!

Chiều nay tôi ra phố về
Gặp em một chuyến xe mê giữa đời
Ngại ngùng ánh mắt chơi vơi
Bâng khuâng chẳng biết tìm nơi tự tình
Trăm năm một cuộc tử sinh
Dìu em lặng ngắm đời mình hư không.

29- Tháng 5- Mậu Tí- (2-7-2008)
Nguyên Khả Phạm Thanh Chuơng

Chiều Nay Tôi ra Phố Về rồi ngồi đay nghiến đủ thứ, cười lăn ra… giuờng.

==============

America Is the Rogue Nation

By Charley Reese

29/06/08 “Antiwar” — -One gets the impression that there are some people in Washington who believe that Israel or the U.S. can bomb Iran’s nuclear reactors, fly home, and it will be mission complete.

It makes you wonder if perhaps there is a virus going around that is gradually making people stupid. If we or Israel attack Iran, we will have a new war on our hands. The Iranians are not going to shrug off an attack and say, “You naughty boys, you.”

Consider how much trouble Iraq has given us. Some 4,000 dead and 29,000 wounded, a half a trillion dollars in cost and still climbing, and five years later, we cannot say that the country is pacified.

Iraq is a small country compared with Iran. Iran has about 70 million people. Its western mountains border the Persian Gulf. In other words, its missiles and guns look down on the U.S. ships below it. And it has lots of missiles, from short-range to intermediate-range (around 2,200 kilometers).

More to the point, it has been equipped by Russia with the fastest anti-ship missile on the planet. The SS-N-22 Sunburn can travel at Mach 3 at high altitude and at Mach 2.2 at low altitude. That is faster than anything in our arsenal.

Iran’s conventional forces include an army of 540,000 men and 300,000 reserves, including 120,000 Iranian Guards especially trained in unconventional warfare. It has more than 1,600 main battle tanks and 21,000 other armored combat vehicles. It has 3,200 artillery pieces, three submarines, 59 surface warships and 10 amphibious ships.

It’s been receiving help in arming itself from China, North Korea and Russia. Unlike Iraq, Iran’s forces have not been worn down with bombing, wars and sanctions. It also has a new anti-aircraft defense system from Russia that I’ve heard is pretty snazzy.

So, if you think we or Israel can attack Iran and not expect retaliation, I’d have to say with regret that you are a moron. If you think we could easily handle Iran in an all-out war, I’d have to promote you to idiot.

Attacking Iran would be folly, but we seem to be living in the Age of Folly. Morons and idiots took us into an unjustified war against Iraq before we had finished the job in Afghanistan. Now we have troops tied down in both countries.

For some years now, I’ve worried that we seem to be more and more like Colonial England – arrogant, racist, overestimating our own capacity and underestimating that of our enemies. As the fate of the British Empire demonstrates, that is a fatal flaw.

The British never dreamed that the “little yellow people” could come ashore by land and take Singapore from the rear or that they would sink the pride of the British fleet, but they did both.

I suppose no one in Washington can imagine the Iranians sinking one of our carriers in the Persian Gulf. How’d you like to be the president who has to tell the American people that we’ve lost a carrier for the first time since World War II?

Exactly how the Iranians will respond to an attack, I don’t know, but they will respond. In keeping with our present policy, our attack on Iran would be illegal, since under the Nuclear Non-Proliferation Treaty, Iran has the right to enrich uranium for peaceful purposes.

Who would have thought that we would become the rogue nation committing acts of aggression around the globe?

Charley Reese has been a journalist for 49 years, reporting on everything from sports to politics. From 1969-71, he worked as a campaign staffer for gubernatorial, senatorial and congressional races in several states. He was an editor, assistant to the publisher, and columnist for the Orlando Sentinel from 1971 to 2001. He now writes a syndicated column three times a week for King Features, which is carried on Antiwar.com. Reese served two years active duty in the U.S. Army as a tank gunner.

We, the Salt of the Earth, Take Precedence 

By Paul Craig Roberts
01/07/08 “– Which country is the rogue nation?  Iraq?  Iran?  Or the United States? Syndicated columnist Charley Reese asks this question in a recently published article.
Reese notes that it is the US that routinely commits “acts of aggression around the globe.”  The US government has no qualms about dropping bombs on civilians whether they be in Serbia, the Middle East, or Africa.  It is all in a good cause–our cause.
This slaughtering of foreigners doesn’t seem to bother the American public.  Americans take it for granted that Americans are superior and that American purposes, whatever they be, take precedence over the rights of other people to life and to a political existence independent of American hegemony.
The Bush regime has come up with a preemption doctrine that justifies attacking a country in order to prevent the country from possibly becoming a future threat to the US.  “Threat” is broadly defined.  It appears to mean the ability to withstand the imposition of US hegemony.  This insane doctrine justifies attacking China and Russia, a direction in which the Republican presidential candidate John McCain seems to lean.
The callousness of Americans toward the lives of other peoples is stunning.  How many Christian churches ask God’s forgiveness for having been rushed into an error that has killed, maimed, and displaced a quarter of the Iraqi population?
How many Christian churches ask God to give better guidance to our government so that it does not repeat the error and crime by attacking Iran?
The indifference of Americans to others flows from “American exceptionalism,” the belief that Americans are graced with a special mission to impose their virtue on the rest of the world.  Like the French revolutionaries, Americans don’t seem to care how many people they kill in the process of spreading their exceptionalism.
American exceptionalism has swelled Americans’ heads, filling them with hubris and self-righteousness and making Americans believe that they are the salt of the earth.
Three recent books are good antidotes for this unjustified self-esteem.  One is Patrick J. Buchanan’s Churchill, Hitler, and the Unnecessary War.  Another is After the Reich: The Brutal History of the Allied Occupation by Giles MacDonogh, and a third is John Pilger’s Freedom Next Time.
Buchanan’s latest book is by far his best.  It is spell-binding from his opening sentence: “All about us we can see clearly now that the West is passing away.”  As the pages turn, the comfortable myths, produced by history written by the victors, are swept aside.  The veil is lifted to reveal the true faces of British and American exceptionalism: stupidity and deceit.
Buchanan’s strength is that he lets the story be told by Britain’s greatest 20th century historians and the memoirs of the participants in the events that destroyed the West’s dominance and moral character.  Buchanan’s contribution is to assemble the collective judgment of a hundred historians.
As I read the tale, it is a story of hubris destroying judgment and substituting in its place blunder and miscalculation.  Both world wars began when England, for no sound or sensible reason, declared war on Germany.  Winston Churchill was a prime instigator of both wars.  He seems to have been a person who needed a war stage in order to be a “great man.”
The American President Woodrow Wilson shares responsibility with Britain and France for the Versailles Treaty, which dismembered Germany, stripping her of territory and putting millions of Germans under foreign rule, and imposed reparations that Britain’s greatest economist, John Maynard Keynes, correctly predicted to be unrealistic.  All of this was done in violation of assurances given to Germany that there would be no reparations or boundary changes.  Once Germany surrendered, the assurances were withdrawn, and a starvation blockade forced German submission to the new harsh terms.
Hitler’s program was to put Germany back together. He was succeeding without war until Churchill provoked Chamberlain into an insane act.  Danzig was 95 percent German.  It had been given to Poland by the Versailles Treaty.  Hitler was negotiating its return and offered in exchange a guarantee of Poland’s frontiers.  The Polish colonels, assessing the relative strengths of Poland and Germany, understood that a deal was better than a war.  But suddenly, the British Prime Minister issued Poland a guarantee of its existing territory, including Danzig, whose inhabitants wished to return to Germany.
Buchanan produces one historian after another to testify that British miscalculations and blunders, culminating in Chamberlain’s worthless and provocative “guarantee” to Poland, brought the West into a war that Hitler did not want, a war that destroyed the British Empire and left Britain a dependency of America, a war that delivered Poland, a chunk of Germany, all of Eastern Europe, and the Baltic states to Joseph Stalin, a war that left the Western allies with a 45-year cold war against the nuclear-armed Soviet Union.
People resist the shattering of their illusions, and many are angry with Buchanan for assembling the facts of the case that distinguished historians have provided.
Churchill admirers are outraged that their hero is revealed as the first war criminal of World War II.  It was Churchill who initiated the policy of terror bombing civilians in non-combatant areas.  Buchanan quotes B.H. Liddell Hart: “When Mr. Churchill came into power, one of the first decisions of his government was to extend bombing to the non-combatant area.”
In holding Churchill to account, Buchanan makes no apologies for Hitler, but the ease with which Churchill set aside moral considerations is discomforting.
Buchanan documents that Churchill’s plan was to destroy 50% of German homes.  Churchill also had plans for using chemical and biological warfare against German civilians.  In 2001 the Glasgow Sunday Herald reported Churchill’s plan to drop five million anthrax cakes onto German pastures in order to poison the cattle and through them the people.  Churchill instructed the RAF to consider drenching “the cities of the Ruhr and many other cities in Germany” with poison gas “in such a way that most of the population would be requiring constant medical attention.”
“It is absurd to consider morality on this topic,” the great man declared.
Paul Johnson, a favorite historian of conservatives, notes that Churchill’s policy of terror bombing civilians was “approved in cabinet, endorsed by parliament and, so far as can be judged, enthusiastically backed by the bulk of the British people.”  Thus, the terror bombing of civilians, which “marked a critical stage in the moral declension of humanity in our times,” fulfilled “all the conditions of the process of consent in a democracy under law.”
British historian F.J.P. Veale concluded that Churchill’s policy of indiscriminate bombing of civilians caused an unprecedented “reversion to primary and total warfare” associated with “Sennacherib, Genghis Khan, and Tamerlane.”
The Americans were quick to follow Churchill’s lead.  General Curtis LeMay boasted of his raid on Tokyo: “We scorched and boiled and baked to death more people in Tokyo that night of March 9-10 than went up in vapor in Hiroshima and Nagasaki combined.”
MacDonogh’s book, After the Reich, dispels the comfortable myth of generous allied treatment of defeated Germany.  Having discarded all moral scruples, the allies fell upon the vanquished country with brutal occupation.  Hundreds of thousands of women raped; hundreds of thousands of Germans died in deportations; a million German prisoners of war died in captivity.
MacDonogh calculates that 2.5 million Germans died between the liberation of Vienna and the Berlin airlift.
Nigel Jones writes in the conservativeLondon Sunday Telegraph: “MacDonogh has told a very inconvenient truth,” a story long “cloaked in silence since telling it suited no one.”
The hypocrisy of the Nuremberg trials is that the victors were also guilty of crimes for which the vanquished were punished.  The purpose of the trials was to demonize the defeated in order to divert attention from the allies’ own war crimes.  The trials had little to do with justice.
In Freedom Next Time, Pilger shows the complete self-absorption of American, British  and Israeli governments whose policies are unimpeded by any moral principle.
Pilger documents the demise of the inhabitants of Diego Garcia. The Americans wanted Diego Garcia for an air base, so the British packed up the 2,000 residents, people with British passports under British protection, and deported them to Mauritius, one thousand miles away.
To cover up its crime against humanity, the British Foreign and Commonwealth Office created the fiction that the inhabitants, which had been living in the archipelago for two or three centuries, were “a floating population.”  This fiction, wrote a legal adviser, bolsters “our arguments that the territory has no indigenous or settled population.”
Prime Minister Harold Wilson and Foreign Secretary Michael Stewart conspired to mislead the UN about the deported islanders by, in Stewart’s words, “ presenting any move as a change of employment for contract workers–rather than as a population resettlement.”
Pilger interviewed some of the displaced persons, but emotional blocs will shield patriotic Americans and British from the uncomfortable facts.  Rational skeptics can find a second documented account of the Anglo-American rape of Diego Garcia online at http://www.cooperativeresearch.org/timeline.jsp?timeline=diego_garcia  An entire people were swept away.
Two thousand people were in the way of an American purpose–an air base–so we had our British dependency deport them.
Several million Palestinians are in Israel’s way.  Pilger’s documented account of Israel’s crushing of the Palestinians shows that our “democratic ally” in the Middle East is capable of any evil and has no remorse or mercy.  Israel is an apt student of the British and American empires’ attitudes toward lesser beings. They simply don’t count.
Those who are the salt of the earth take precedence over everything.
Paul Craig Roberts, a former Assistant Secretary of the US Treasury and former associate editor of the Wall Street Journal, has held numerous academic appointments. He has been reporting shocking cases of prosecutorial abuse for two decades. A new edition of his book, The Tyranny of Good Intentions, co-authored with Lawrence Stratton, a documented account of how Americans lost the protection of law, was published by Random House in March, 2008.
=

The Phoenix Program

The Douglas Valentine Vietnam Collection at the National Security Archive in Washington, DC, has been open and used by researchers since early 2007. The Collection contains the research material, including original handwritten interview notes and government documents obtained through FOIA requests, for my book The Phoenix Program. The Collection can only be used in the National Security Archive’s Reading Room; it is not available for interlibrary loan and an appointment must be made to use it. The “resguide” link below will help anyone who wants to read the material.
Reviews of The Phoenix Program
Below are selected articles I’ve written about the Phoenix Program

Why The Phoenix Program Was Forbidden (and How it was censored) by Douglas Valentine at http:/​/​infraturbinal24.rssing.com/​chan-13023294/​all_p25.html

When I started working on The Phoenix Program in 1984, I approached the subject from two angles: I worked from the ground up, through veterans’ organizations, searching for enlisted men who had been part of the program; and I worked from the top down, by contacting William Colby. A former director of the CIA, Colby was the individual most closely associated with Phoenix, based on his staunch defense of the program before several Congressional committees.

To my surprise, Colby agreed to help me, and over the course of two years, he referred me to a number of senior CIA officers who had played prominent roles in Phoenix and its component parts. In many cases, these people spoke openly to me, and shared documents with me, in violation of their CIA oaths, simply because I carried Colby’s imprimatur.

Telling the truth about the CIA is forbidden, and the prohibitions encompass every facet of American life. When I initially decided to write the book, my first interview was with David Houle, the director of veteran services in New Hampshire. I asked David if there was a facet of the Vietnam War that had been concealed. Without hesitation he replied, “Phoenix.” After explaining a little bit about the program, he mentioned that one of the patients in the hospital had been in it. David added that his client’s service records had been altered to show that he’d been a cook in Vietnam.

I asked to meet Houle’s client, but the fellow refused to be interviewed: he was disabled and afraid the Veterans Administration would cut off his benefits if he talked to me. That fear of the government, so incongruous on the part of a war veteran, made me more determined than ever to uncover the truth about Phoenix.

In 1987, I filed a Privacy Act request. The ACLU took the case because the CIA initially used an obscure excuse to reject my request. They rejected it on the basis that it might reasonably lead to a “civil action or proceeding.” The ACLU assigned an intern to research the meaning of the clause and filed an appeal based on its interpretation. The CIA quickly changed its reason for rejecting my Privacy Act request to “national security.”

After several years of legal wrangling, a sympathetic judge, Michael Ponsor, in the federal district court in Springfield, Massachusetts, ruled that the CIA must release most of the documents in my file. Some remain classified.

Historian John Prados summarized the case in his book The Family Jewels (University of Texas Press, 2013):

Active measures can go beyond attempts to fiddle with the documentary record. Frank Snepp has written about how senior officers at Langley warned employees that he was at work on a CIA book and cautioned them against speaking to him. At least Snepp was a former CIA officer, but the agency applied the same logic in the late 1980s to a private individual, author Douglas Valentine, who was researching a book on the notorious “Phoenix” program during the Vietnam War. The historian collected numerous interviews for his research, and at first Langley had been cooperative, with CIA’s Retirement Division even forwarding his letters to former officers, and a number speaking with him on the strength of his early contacts with William E. Colby.

Valentine’s initial interviews proved the most productive. Elements at Langley became uncooperative after one retiree asked CIA lawyers, in the summer of 1986, what things were safe to talk about. When a Publications Review Board lawyer checked to see whether Phoenix was off-limits (the Board had previously cleared Phoenix material in works by Colby himself and agency officer Ralph McGehee), he was advised to caution interviewees not to talk to Valentine. The lawyer pointed out that the most he could do was warn veterans against unrehearsed, unprepared interviews and suggest that they “obtain the questions from Mr. Valentine in writing in advance and draft a written response for the Board to review.” Board lawyers gave this advice repeatedly, noting in an April 1987 instance that when Valentine’s questions were solicited and answers reviewed by the Board, “virtually all were found to be classified.” Some months later the same lawyer complimented an agency veteran for refusing to be interviewed.1

By April 1988 the Publications Review Board was advising clandestine service officers of a concern that Valentine’s “forthcoming book will contain so much detailed information about Agency operations and officers that . . . it may cause damage,” and asking that senior management of the Directorate of Operations should have the entire matter brought to their attention. Spooks, including some in the ostensibly impartial Inspector General’s office, were ranging the halls telling each other that the author was “bad news” and hoping they might escape his attention. Valentine eventually discovered this stonewalling due to the reticence of CIA veterans—and the materials quoted here emerged in the course of legal discovery in the lawsuit Douglas Valentine brought against the Central Intelligence Agency.1

As Prados explained in a recent essay on his blog, the CIA”s maneuvers to block my access and withhold my files failed the smell test:

Valentine was not an agency employee and its Review Board had no jurisdiction over him whatever. Second, the Board exists to approve written works and has no authority over speech. CIA officials exhorted colleagues to come to them if approached by Valentine, and congratulated those who did so. To give their intervention a patina of legality they encouraged employees to write down Valentine’s questions and the employees’ proposed answers–which could then be considered written materials that the Board could reject.

“Let me just emphasize,” Prados continued “that there was a category of information about the Phoenix program that was secret and could be denied under FOIA. But Doug Valentine’s approaches to retirees for interviews were, by definition, not secret. Derivatively, talks inside CIA about how to deal with Valentine’s interviews were also not secret. But CIA rejected the FOIA on national security grounds.”
However, the word that I was “bad news” had gotten out across the board. Indeed, it was the paragon of the establishment media, the New York Times, that dealt the death blow to my book The Phoenix Program when it came out in 1990. It did so because of the following passage on page 339:

Without the complicity of the media, the government could not have implemented Phoenix, in Vietnam or America. A full disclosure of the Province Interrogation Centers and the Provincial Reconnaissance Units would have resulted in its demise. But the relationship between the media and the government is symbiotic, not adversarial. The extent to which this practice existed was revealed in 1975, when William Colby informed a congressional committee that more than five hundred CIA officers were operating under cover as corporate executives and that forty CIA officers were posing as journalists. Case in point: reactionary columnist and TV talk-show host William Buckley, Jr., the millionaire creator of the Young Americans for Freedom and cohort of Howard Hunt’s in Mexico in the 1950’s.

When it comes to the CIA and the press, one hand washes the other. In order to have access to informed officials, reporters frequently suppress or distort stories. In return, officials leak stories to reporters to whom they owe favors. At its most incestuous, reporters and government officials are actually related-for example, Delta PRU commander Charles Lemoyne and his New York Times reporter brother, James. Likewise, if Ed Lansdale had not had Joseph Alsop to print his black propaganda in the United States, there probably would have been no Vietnam War.

In a democratic society the media ought to investigate and report objectively on the government, which is under no obligation to inform the public of its activities and which, when it does, puts a positive “spin” on the news. As part of the deal, when those activities are conducted in secret, illegally, reporters look away rather than jeopardize profitable relationships. The price of success is compromise of principles. This is invariably the case; the public is always the last to know, and what it does learn are at best half-truths, squeezed into five-hundred-word columns or thirty-second TV bites, themselves easily ignored or forgotten.

So it was with Phoenix.

In the course of four years researching and writing The Phoenix Program, Newsweek correspondent and author Nick Proffitt was the only Vietnam War news reporter to help me. Seymour Hersh refused. Gloria Emerson told me the story of the Phoenix program belonged to Hersh, and that because I was stealing his scoop, no one would help me.

Reporters, editors, and publishers have their own network, and it interlocks with the CIA’s. On many occasions, CIA officers told me of drinking in their offices in South Vietnam with specific reporters, who dutifully kept their mouths shut about the CIA’s murderous activities. So when the Times decided to kill my book, it got Vietnam War reporter Morley Safer to write a half-page review, ripping it to shreds. After that, my publisher William Morrow refused to spend a cent on promotion.

The Times allowed Safer to write the review, even though Safer’s book Flashbacks, about his 1989 return to Vietnam, was published only months before mine. I asked the Times why, in fairness, they didn’t let me review Safer’s book, given that they let him review mine? No response, of course. That’s how blatant the corruption is.

And the complicity is across the board. After Safer’s review, none of the publications representing the “compatible Left,” as the CIA calls it, would publish my writings on the CIA. That includes The Nation, The Progressive, and Democracy Now! As someone censored by it, I can testify that it becomes painfully clear who within the Left is “compatible,” not by what they say, but by the writers and subjects they intentionally ignore.

The only publications that would accept my work were John Kelly’s National Reporter and Lou Wolf’s Covert Action Quarterly, both of which were dedicated to exposing the CIA. It was not until 1998, when Alexander Cockburn and Jeffrey St. Clair invited me to write for CounterPunch, that my work on Phoenix made it into the larger light of day.

After publication, I was subjected to other forms of harassment as well, the kind any investigator of CIA war crimes must endure, including midnight calls threatening to kill me and my wife and burn our house down. My wife got in the habit of telling the anonymous callers to “take a number and stand in line.” We never took the threats seriously. Everything I was doing was legal, as Prados noted above, and I wasn’t trying to hide anything.

My work was also falsely discredited by a boatload of former Navy SEALs, who were angry about my portrayal of them as psychopathic killers on a murder spree, as well as by a clique of former Phoenix advisors, upset at my portrayal of them as war criminals who had conducted Gestapo-style operations against Vietnamese civilians. These fellows engaged in “swift-boat” tactics, including a smear campaign of nasty reviews full of untruths on Amazon.

One Phoenix advisor, who became a high school teacher in civilian life, went so far as to prompt one of his students to write a book specifically dedicated to refuting everything I said in mine. As a graduate student at Harvard, Mark Moyar approached me. He said my Phoenix program book was great and that he wanted to write a dissertation based on it. He asked if I would refer him to a number of senior CIA officers I had interviewed. I kindly did so. Moyar then went to these people and—as one of them told me—said, “Now is your chance to do unto Valentine what Valentine did unto you.”

The harassment was international in scope. In 1990, the BBC hired me as a consultant on a documentary it was making about the CIA in Vietnam. As part of my contract, I was given an all-expenses trip to Vietnam. But when I got to Saigon in February 1991, I was told there was nothing for me to do. The other consultants were staying in one hotel, and I was exiled to a burned out wreck on the other side of town, all by myself. It was no accident: I was the only consultant who openly accused the CIA of committing war crimes, and the other consultants refused to work with me.

The CIA has collaborators in news organizations, universities, industries, and governments worldwide; and their alliance corrupts our knowledge of one another, as well as our understanding of who we are. My book was forbidden, merely because I explained one facet of this vast conspiracy.

1United States District Court for the Eastern District of Massachusetts, Douglas Valentine v. Central Intelligence Agency, 92-30025-F. The documents quoted (officials’ identities redacted) are a CIA/​Publications Review Board (PRB) memorandum for the record of July 31, 1986, a PRB letter of April 7, 1987, a PRB letter (only referred to) of December 24, 1987, a memorandum from the PRB associate legal advisor to Directorate of Operations management staff of April 8, 1988, and an undated note (only referred to) from an employee of the Office of the Inspector General.

Advertisements