Quyền lực, bất cứ quyền lực loại nào, đều vô cảm và bạo ngược! Nó không chỉ bạo ngược từ nền tảng của định chế đó (kể cả cái gọi là gia đình, một định chế nhỏ nhất của quyền lực nếu chưa tiến hóa), mà những kẻ chỉ cần tin theo nó cũng trở thành vô cảm bạo ngược.

Chúng ta không cần duyệt lại lịch sử chính trị của “nhân loại” với đầy dẫy vô vàn bi kịch bạo ngược này. Nó xa xăm quá, khiến lắm kẻ cảm giác như một điều không thật, trườu tượng, và lý thuyết. Trí nhớ của quần chúng đa số vẫn chỉ là trí nhớ của loài sinh vật chưa trưởng thành, vốn dĩ đã ngắn ngủi. Nó còn ngắn hơn khi những kẻ tôn thờ một “tín lý” mắc chứng loạn tâm “ám tín tự kỷ” (cognitive dissonance).

Bao nhiêu kẻ còn nhớ những con người đem an nguy bản thân ra đấu tranh tố cáo tội ác chính phủ vì nền tự do của xã hội cách đây 50 năm? Daniel Ellsberg? (A!!! Ngụy ngục vẫn nhớ như một căm thù uất ức! Vẫn chưa nguôi đang truyền lòng ngu ngục căm thù xuống cho thế hệ con cháu họ!!!)  20 năm? Cách đây 10 năm? 5 năm? 2 năm? Nhưng chắc hẳn đại đa số người ta vẫn nhớ rất rõ các ca sĩ tài tử, thậm chí có cả một tập lưu trữ những chi tiết hình ảnh tình ái lăng nhăng, kiều cách ăn mặc của các “thần tượng” này nữa!

Bao nhiêu kẻ trong chúng ta còn nhớ Philip Agee?Mordechai Vanunu? Lynne Stewart? Nếu chưa ra người thiên cổ như Philip Agee, thì họ đang ở đâu? Làm gì? HỌ ĐANG CHẾT RỤC TRONG TÙ của các xã hội có chính phủ to mồm “dân chủ, nhân quyền” thượng tôn pháp trị đấy!!! Chúng ta có biết không?

Mới vừa đây có Bradley Manning, và anh đã thành chị Chelsea Manning? Chealsea Manning ngày ấy đã làm gì? Hiện chị ta đang ở đâu? Nghe có vẻ xa xăm quá! Xa mặt khuất lòng! Và hầu như mọi người khi bị chất vấn, đều khỏa lấp và tin rằng nền chính trị các nước Âu, Mỹ, Úc “dân chủ” nhất toàn cầu, chính phủ nước Âu, Mỹ, Úc tận thiện nhất các chính phủ tận thiện,, sao lại có thể có sự việc bạo ngược được? Mà nếu có xảy ra đi nữa, nền dân chủ pháp trị Âu- Mỹ- Úc sẽ chỉnh lý nó ngay và công lý sẽ thắng!!! Họ chỉ tin như thế và không hề quan tâm chất vấn sự kiện chung quanh họ nữa!

Ta hãy nói về một tù nhân chính trị đang bị báo chí chính qui Âu Mỹ Úc bôi nhọ, chính phủ vây khốn, Bị vây khốn nhưng vẫn kiên trì làm việc tố cáo và giúp những ai còn nhân tâm yêu tự do nhân phầm tố cáo tôi ác chính phủ: Anh Julian Assange của Wikileaks!

Julian Assange!!! ???  À!!! Cái tên “lang bạt kỳ hồ”, đạo chích điện toán, ăn cắp tài liệu chính phủ, tung tin có hại, đe dọa mạng sống binh lính đồng minh, can tội hiếp dâm, và đang là tên đào tẩu được chính phủ độc tài Ecuador dung chứa tại tòa đại sứ nằm tại Knightsbridge của Luân Đôn, Anh quốc!!!

Đây là tất cả THÔNG TIN CHÍNH QUI mà “chúng ta” được các chính phủ tận thiện và báo chí chính qui Âu Mỹ Úc “thông báo”

Có mấy ai biết sư thật hoàn toàn khác hẳn? Người dân Anh quốc “tự hào dân chủ” hiện nay có thấy nhục và bị xúc phạm khi đất nước họ đang đê tiện triệt hạ mạng sống một con người không chỉ hoàn toàn vô tội mà còn đang làm việc cống hiến cho nền tự do chung của xã hội? Với đa số chắc chắn là không! Họ đã nghiện ngập quyền chính, tôn thờ quyền chính nhà nước và họ cũng đang bạo ngược và vô cảm với tội ác! Dung túng tội ác tiếp diễn!

Julian Assange không chỉ là “tội phạm” của một chính phủ Thụy Điển với cái án hư cấu tưởng tượng do một lũ nhà nước đồng minh tạo ra, mà Assange đang là nạn nhân của tất cả bọn chính phủ nhà nước Âu Mỹ Úc. Chúng toa rập với nhau nhịp nhàng với mục tiêu đánh gục Wikileaks và cá nhân Julian Assange, bằng sự đồng lõa bỉ ổi của bầy kên kên báo chí chính qui!

Trong bài phóng sư dài mới đây của ký giả điều tra độc lập danh tiếng người Úc, ông John Pilger, kẻ bị bọn chính phủ thù ghét. Nhưng chưa bằng lũ ngụy ngục, chúng ghét cay đắng Pilger hơn cả Daniel Ellsberg, Hugh Thompson, Jr, những người mà chúng cho rằng,  cùng với cao trào chống chiến tranh, đã làm chúng bại trận mất quyền bỏ chạy, phải chịu trách nhiệm “nhân bản” về những nạn nhân của cộng sản sau khi Mỹ rút quân khỏi Đông Dương; và rằng nạn nhân của cộng sản sau 1975 nhiều hơn nạn nhân trong cuộc chiến tranh Đông dương đã chấm dứt!!! Thật là một ngụy biện trơ trẽn và bạo ngược!  Ta hãy mở một ngoặc đơn ở đây để bàn qua não trạng bạo ngược ức chế loạn tâm này.

(mở NGOẶC

Những Ấm Ức Loạn Tâm không Bao Giờ Giải Tỏa

Hãy cứ giả thiết rằng lời cáo buộc này đúng theo thống kê (riêng Polpot giết người Miên gần 3 triệu) và Việt Nam chết trong cải tạo, vượt biên v.v khoảng1 triệu (không chính thức. Tổng số thuyền nhân tị nạn Đông dương khoảng gần 3 triệu).

Lập luận này đặt trên những giả định vừa thiếu kém, vừa gian. Thiếu kém do không truy cứu bằng chứng lịch sử- Gian vì lợi dụng xác người trong ý niệm “nhân bản, nhân đạo” để lên án những người chống chiến tranh, yêu giải pháp hòa bình, và biện minh vinh danh cho cuộc chiến tranh phi nghĩa giết người vì quyền lực và lợi nhuận!

a- Giả định thứ  nhất cho  rằng nếu Mỹ không bỏ cuộc rút quân, có nghĩa là Mỹ  và Ngụy (đồng minh Úc, Nam Hàn v.v.) sẽ “chiến thắng” ngay bọn Phỉ cộng vào năm 1975? Hoặc một vài năm sau đó! Như một số mơ mộng rằng “ráng kéo dài cho đến khi Reagan lên cầm quyền, sẽ thắng miền Bắc” Bí Ẩn 30-04-1975!!!

b- Giả định thứ hai, cho rằng Mỹ là một chủ lực TỐT. Nghĩa là Mỹ vào Việt Nam là vì chủ đích ngăn chặn làn sóng Cộng Sản (thuyết domino), bảo vệ “dân chủ tự do” cho miền Nam!!! Như vậy, nếu Mỹ thắng cuộc chiến  Đông Dương, 3 nước Việt Miên Lào sẽ có dân chủ tự do phát triển- dân chúng hạnh phúc không bị đàn áp bắn giết v.v

Những Điều Tưởng Tượng

1- Giả định thứ nhất KHÔNG THẬT và KHÔNG TƯỞNG-  Thật sự cuộc chiến tranh sẽ kéo dài và gia tăng chưa biết đến lúc nào mới chấm dứt, tính theo tương quan lực lượng hai bên và vị trí chiến lược của những nước liên hệ trên trường quốc tế, nếu Mỹ không thay đổi ý định và rút quân.

Theo tài liệu giải mật “Hồ sơ Ngũ Giác Đài” do chính người chuyên gia phác họa kế hoạch chiến tranh là tiến sĩ Daniel Ellsberg, làm việc cho công ty nghiên cứu chính sách chiến lược RAND và bộ quốc phòng Mỹ, cho biết rõ là Mỹ sẽ không thắng, không thể thắng, và không chủ định thắng, nhưng có khả năng kéo dài cuộc chiến vô hạn định vì chính trị và lợi nhuận của giới Kỹ Nghệ Chiến Tranh.

Và cứ  giả thiết là cuộc chiến có khả năng chấm dứt khi Gobachev cùng Reagan ký kết giải thể Liên bang Sô Viết (12-1922# 8-12-1991). Như vậy sư tàn phá từ 1975 đến 1991 (16 năm) sẽ lên đến mức nào?Ai lấy cái quyền gì bắt người khác phải chết, tàn tật và chém giết vì mình, kéo dài thêm 16 năm này?

2-Giả thiết  cuộc chiến không chấm dứt 1975, mà kéo dài đến khi Liên Sô sụp đổ- nhưng Trung Cộng còn đó- sự thỏa hiệp họp tác giữa Trung Cộng và Âu Mỹ càng ngày càng chặt chẽ. Cuộc chiến Việt Nam và Đông Dương chắc chắn sẽ có ngã rẽ nhưng là thuận hướng Trung Quốc hơn, như chúng ta đã thấy qua việc hạm đội 7 Mỹ đứng ngắm nhỉn hải quân Trung Cộng nhận chìm đàn em ngụy VNCH năm 1974 tại Hoàng Sa!

Và chính sách cũng như chiến lược của Mỹ từ năm 1975 đến hôm nay: Tập trung quây khu bao vây NGA và vùng Trung Đông. Không phải Trung Cộng!!! Như vậy hậu quả của cuốc chiến sẽ có  khả năng tàn khốc hơn nếu kéo dài thêm sau 1975- và phần thua vẫn là phía miền Nam. Hay họ không muốn nhớ rằng nhà nước Mỹ đã thỏa hiệp với Trung Cộng từ năm 1970 và năm 1972 với việc chính thức bắt tay của Mao-Richard Nixon? Đồng bộ với việc tăng cường tấn công của Bắc Việt, Trung Cộng vào miền NAM, cũng như tiến trình “rút quân- phụng hoàng chuồn” nhanh hơn năm 1973. Kissinger và chiến lược hợp tác với Trung Cộng là tác phẩm của CHỐNG CHIẾN TRANH chăng?

Xin nhắc nhở rằng NGA, kẻ thù của Âu, Mỹ, Úc từ trước đến hiện nay, sau Liên Xô, là một xã hội Thiên chúa giáo bảo thủ (orthodox) với nền chính trị dân chủ gián tiếp như Âu Mỹ. Trong khi Trung Cộng, bạn thân đối tác của Âu Mỹ Úc lại là  xã hội Chuyên Chế Độc Tài! Có ai chịu mở đầu ra học bài học quyền lợi chính trị hay không?

3- Giả thiết miền Nam, chế độ độc tài quân phiệt Ngụy VNCH nhờ Reagan thắng… vào năm 1991 (như tưởng tượng mong muốn) Có ai dám chắc, với não trạng “chống cộng diệt cộng” của căm thù ý thức hệ man rợ Á châu, Việt, Miên, Lào, một cuộc trả thù nhưng khác kiểu “cải tạo” không xảy ra? Nhìn lại cuộc ám sát trả thù của chế độ ngụy sau Mậu thân với các gia đình bị nghi là Việt cộng (phối hợp trong chiến dịch Phụng Hoàng); và các chế độ độc tài quân phiệt tay sai do Mỹ ủng hộ và điều khiển đàn áp, giết người như Suharto tiêu diệt 500,000 người bị cho là theo cộng sản; Cáp Duồn (Miên quốc gia giết người Việt) tại Miên (1970-71); Cộng Hòa Pinoche tại Chile, quân phiệt Phác Chính Hy Nam Hàn v.v  Tất cả các xã hội này cũng chỉ mới bước vào thay đổi sau thập niên 1990s -Như thế, bằng chứng không cho phép cái kết luận giả định một chút lạc quan nào cả! Những lập luận kiểu này họ muốn kéo dài chiến tranh như thế này chăng? Hình ảnh chiến tranh VN 1955-1975?

4- Cái giả định cho rằng Mỹ vào Việt Nam theo “lời mời” của ngụy VNCH vào giúp “bảo vệ tự do dân chủ” cho miền Nam đã sai từ căn bản! Miền NAM VN không phải là xã hội tự do dân chủ- và Mỹ vào không phải vì bảo vệ tự do hay ngăn cản cộng sản. Mỹ chơi với cộng sản khi cần, Mỹ chơi với Trung Cộng trước 1975! Và tiếp tục chơi thân hơn hôm nay,  kể cả Việt Cộng và Tầu Cộng!

Mỹ tràn vào “cưỡng chiếm” ép phải nhận lãnh tiêu thụ vũ khí, thì đúng hơn, sau khi họ tự giết tổng thống của họ là Kennedy, người muốn rút quân và kiến tạo hòa bình sớm hơn- Bùi Diễm đã nói một nửa sự thật trong In the Jaws of History.  Nhà nước Mỹ tàn bạo phi nhân ngay trong xã hội họ- nếu không có nỗ lực của Rosa Park, Marin Luther King Jr., Malcolm X , Harvey Milk v.v thì người da mầu, Á Châu, đồng tính v.v chưa chắc đã được bình đẳng nhân quyền tương đối như hiện nay. Và lịch sử ngoại giao của nhà nước Mỹ chưa hề ủng hộ xây dựng một xã hội dân chủ tự do nào, chỉ toàn ủng hộ nuôi dưỡng quân phiệt độc tài, ngược lại còn lật đổ ám sát những nỗ lực dân chủ các nơi theo nhu cầu của nhà nước Mỹ!

Riêng thời Reagan, giấc mơ của ngụy ngục, lại là tên tội phạm chiến tranh ghê tởm- hệ quả của Reagan là Al Qaeda, Taliban sau khi “thắng Sô Viết”, là lũng đoạn chủ động cho các chế độ độc tài giết người tại Nicaragua, El SanVador, Panama, Guatemala v.v Thật khó hình dung ra cái chế độ rặt một bọn hung hăng quân phiệt thấp kém với chính sách chủ nhân đàn anh của chính phủ Mỹ điều khiển, nó sẽ như thế nào bên cạnh một Trung Quốc đối tác mới của Mỹ!  Ngoài một sự kiện rõ ràng là tầm nhận thức chính trị dân trí của cả xã hội Việt Nam, ngay cả cho đến hôm nay với các bằng chứng sinh hoạt chính trị trong, đặc biệt ngoài nước, không cho phép một kết luận tích cực hình thành. Khả năng một cuộc chiến căng thẳng giữa Viêt-Hoa,Miên có thể đã bùng nổ và đang tiếp diễn cho đến hôm nay, chắc hẳn nó phải ở mức độ lớn hơn sự căng thẳng từ 1979 đến bây giờ giữa Việt-Hoa. Và dĩ nhiên với nhà nước Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ và là đàn anh chỉ đạo! Và nhớ rằng giả thuyết này với “hoang cảnh” này không có sự hiện hũu của khối Việt Kiều hiện nay khắp nơi trên thế giới!

5 – Đừng quên là vì lý do chính trị (một phần chống Sô Viết và Việt Cộng), phe Âu Mỹ ủng hộ và chính đáng hóa cho chế độ POLPOT do Trung Cộng nuôi dưỡng The U.S. Is Even More Guilty Than Pol Pot cũng như duy trì vị trí “chính đáng” của Polpot tại LHQ!

  • Như vậy, nếu muốn nói đến trách nhiệm lương tâm nhân bản sau cuộc chiến Đông Dương, thì Nhà nước Mỹ và đồng minh Âu Châu và LHQ phải gánh trách nhiệm việc Polpot tàn diệt gần 3 triệu người Miên! 1- New Statesman | How Thatcher gave Pol Pot a hand 2- US supports Pol Pot 3-Friends of Pol Pot Những người chống chiến tranh, họ không ủng hộ nuôi dưỡng Polpot. Chính những kẻ ủng hộ vinh danh chiến tranh, quyền lợi quốc gia tại Âu Mỹ và các nhóm ngụy di tản sau 1975 đã ủng hộ nuôi dưỡng chính đáng hóa Ponpot theo chính sách của Mỹ!

Như Tôi đã từng nhận định, việc kết thúc cuộc chiến Việt Nam, hay bất cứ cuộc chiến tranh nào, đều là một sự kiện hoàn toàn được mong muốn cần thiết, bất kể bên nào thắng thua. Lý tưởng nhất vẫn là hai bên  không kẻ thắng thua, độc lập riêng biệt để tự quyết (Nam Bắc hàn hôm nay)- nhưng với não trạng chủ thuyết tổ quốc giống nòi, nó không thể xảy ra, bên nào cũng muốn “thống nhất” bằng mọi giá dù tàn bạo đến đâu! Một thằng phía Bắc thì ngu xuẩn tuyên bố “Nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam phải là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”!!!  Một thằng miền Nam thì ngu ngục ra lệnh “hướng về đất tổ cương quyết Bắc phạt”..

Những thằng này nó mù trí tuệ, không thấy nước Thụy Sĩ tách ra từ Ý, Pháp, Đức; và ngay nước Mỹ tách ra từ Anh; Những tên lãnh đạo bịp bợm tối dạ này, chẳng còn sống để thấy tổ quốc Sô Viết của nó đã biến mất; tổ quốc Tầu, dân tộc Hán chắc chắn sẽ tách hẳn một ngày không xa, trước nhất là Đài Loan và Hồng Kông v.v

Và cá nhân Tôi, kỳ vọng một ngày gần đến, người dân thế hệ mới vùng đất Việt Nam trưởng thành- sẽ có những người yêu tự do, yêu nền nhân chủ, yêu quí giá trị tự thân, không còn vướng víu nộ lệ ý niệm man rợ nghèo nàn tổ cò rồng tiên rồng téo, họ sẽ tranh đấu đòi tự trị khỏi cái đất “ngàn năm ngu ngục” với “4 ngàn năm đui điếc” để thành lập một xã hội giá trị dân sự (community of values) của những ai yêu tự so tự chủ và dân chủ nhân bản như Thụy Sĩ đã từng thực hiện! Còn những ai khác muốn ôm tổ tiên, đất tổ ngàn năm xin cứ tự nhiên ôm Hà Nội Thăng Long v.v mà xây tượng chổng mông gào thét tự hào. Nhưng không có quyền dí súng bắt người khác phải ngu ngục u mê như mình! Những người ở đất Thụy Sĩ, đất Mỹ v.v họ làm được, họ sống tốt đẹp hơn, tại sao chúng ta không làm được???

Nhân Loại đang tiến đến con đường mới với chủ trương giải quyết mọi vấn đề phi chiến tranh, và biến chiến tranh thành tội phạm, dù bất cứ lý do gì..Kuala Lumpur Foundation to Criminalise War
Dù chưa lớn mạnh, mới ở bước đầu. Nhưng tất cả những tiến bộ của nhân loại cũng đều khởi đi từ những bước nhỏ bé từ đầu, và rồi sẽ trở thành giá trị chung khi cuộc vận động miên tục đạt tiêu chí của nó!

Nhưng nói cho cùng thì NGƯỜI MIÊN, NGƯỜI LÀO, NGƯỜI VIỆT v.v hay bất cứ xã hội nào, đều phải tự gánh trách nhiệm vì cái NGU NGỤC của họ thì đúng hơn! Cải Cách Ruộng Đất, Cách Mạng Văn Hóa v.v đều do họ ngu ngục bị mê hoặc bởi  chủ nghĩa lãnh tụ v.v và CHÍNH BÀN TAY HỌ, những con dân ngu ngục TỰ  TAY TÀN SÁT VẤY MÁU LẪN NHAU. Ngày nay, những kẻ tham gia vào cảnh sát quân đội, hãnh diện trong bộ quân phục, đang  trở thành những tên sát nhân chuyên nghiệp cho nhà nước giết đồng bào thân nhân của chính họ. Chứ bọn lãnh tụ không đứa nào TRỰC TIẾP NHÚNG TAY!

Cũng như người Hồi tại Trung Đông hôm nay, trách nhiệm cuối cùng là của chính họ- hậu quả là sự tự ngu ngục hóa vì niềm tin mê tín lạc hậu của chính họ!

Người Âu Mỹ, người da đen tại Mỹ ĐÃ KHÔNG ĐỢI CHỜ ai khác ban phát, hay ngay cả tranh đấu tự do nhân quyền cho họ. Chính họ đã cùng nhau tranh đấu vận động liên tục, miên tục  Civil Rights in America. và cho đến hôm nay nới tiếp với vô số người khác như Manning, Snowden, Assange v.v đang làm!

Bây giờ xin đóng ngoặc trở lại với Julian Assange.
đóng  NGOẶC)

John Pilger và cuộc điều tra sự vụ Julian Assange

Trong bài phóng sự dài mới đây của ký giả điều tra độc lập danh tiếng người Úc, ông John Pilger, đã tổng kết toàn sự việc và cho thấy một âm mưu thật đê tiện triệt hạ Wikileaks và Julian Assange được tiến hành giữa chính phủ Mỹ, Anh, Úc và Thụy Điển. Nó cho thấy bộ mặt thật sự ghê tởm của quyền chính không chỉ những tên chính trị gia cao cấp, mà cả những những kẻ quan chức tay sai cấp thấp như các công tố viên, luật sư, ký giả, cảnh sát v.v toàn bộ là những con chó sói tay sai tệ hại hơn cả những con sói lớn mà Jefferson đã cảnh cáo,

Thật sự nhờ có Edward Snowden công bố tài liệu mật, cho đến nay chúng ta mới rõ rằng nhà nước Âu Mỹ (Anh, Úc, Thụy Điển  v.v) cùng phối hợp tìm cách đánh gục Wikileaks bằng phương pháp bôi nhọ danh dự cũng như lôi kéo kẻ sáng lập ra Wikileaks vào vòng pháp lý. Vì đây là biện pháp hữu hiệu nhất. Kế hoạch này do “Ban Phản Gián Mạng” của Bộ Quốc Phòng Mỹ lên kế hoạch (Cyber Counterintelligence Assessments Branch”).

Vụ rắc rối quan hệ giữa Assange và hai cô bạn ái mộ Wikileaks, thật ra đã được giải quyết ngay tại văn phòng công tố Thụy Điển. Giám đốc Công Tố Eva Finne đã hủy lệnh bắt Assange vì KHÔNG CÓ CHỨNG CỚ GÌ KHÉP TỘI ASSANGE! Hai cô bạn KHÔNG HỀ TỐ CÁO ASSANGE là hiếp dâm. Và đó là lý do hồ sơ của sự vụ đã được đóng lại và Julian Assange được viên công tố Thụy Điển lúc bấy giờ trả tự do rời khỏi Thụy Điển. (Less than 24 hours later, the Stockholm Chief Prosecutor, Eva Finne, took over the investigation. She wasted no time in cancelling the arrest warrant, saying, “I don’t believe there is any reason to suspect that he has committed rape.” Four days later, she dismissed the rape investigation altogether, saying, “There is no suspicion of any crime whatsoever.”  The file was closed.)

Nhưng khi nhà  nước Mỹ  phát động chiến dịch triệt hạ Wikileaks, thì  đùng một cái, một chính trị gia, luật sư, Claes Borgstrom, thuộc đảng dân chủ xã hội (social democrat) Thụy Điển, lúc đó đang vận động tranh cử  (đồng đảng với công tố viên mới Marianne Ny) bỗng dưng nhảy ra đòi đại diện hai cô thiếu nữ… Và công tố viên mới của Thụy Điển, Marianne Ny, một thành viên của đảng xã hội thân Mỹ, cũng bất ngờ đòi mở lại hồ sơ vụ Assange dù KHÔNG CÓ ĐƠN TRUY TỐ hay KHIẾU TỐ chính thức của hai thiếu nữ!

Hai cô thiếu nữ này sau đó cho biết, chính họ bị cảnh sát Thụy Điển trong ban công tố “xoay” để biến việc đòi Assange đi thử bệnh SIDA (HIV) sau khi chung đụng tình dục với nhau thành tội danh “cưỡng hiếp”. Tội hiếp dâm là do chính cảnh sát và công tố mớm vào mà thôi.

Công tố viên trưởng Thụy Điển Marianne Ny, hoàn toàn tự quyền ra trát đòi dẫn độ Assange bất chấp mọi nguyên tắc pháp lý của ngay Thụy Điển. Dĩ nhiên được hiểu là có lệnh của chính phủ Thụy Điển sau áp lực của nhà nước Mỹ. Ngay báo chí Thụy Điển cũng choáng váng với thái độ cửa quyền thấp kém tùy tiện của Marianne Ny.

Bằng chứng họ nêu ra cho thấy Marianne Ny chỉ thị quyền chứ lẽ ra theo luật và nguyên tắc của Thụy Điền, không cần phải ra trát dẫn độ Assange, mà có thể thẩm tra Assange qua điện thoại, internet truyền hình trực tiếp v.v nguyên tắc mà nhóm luật sư của Assange đã đề nghị từ lúc đầu.The real reason why Assange is not questioned in London Hầu như đã rỏ ràng Marianne Ny chỉ muốn bắt Assange bằng mọi giá  để nộp cho Mỹ!!!

Về phía Anh quốc, toàn bộ quốc hội (lập pháp) và tòa án tối cao (công lý) toa rập với hành pháp (chính phủ) của thủ tướng Blair cũng bất chấp nguyên tắc pháp lý Anh quốc trong điều lệ dẫn độ đã ngang nhiên bắt giữ Assange dù KHÔNG CHÚNG CỚ TỘI PHẠM hay LỆNH TRUY TỐ nào cả. Mà chỉ dựa vào một đòi hỏi đơn thuần của công tố Marianne Ny. Ngay cả cơ quan Interpol cũng vi phạm nguyên tắc ra TRÁT TRUY NÃ ĐỎ không cần chứng cớ!

Nguyên tắc chung là khi có lệnh yêu cầu từ một quốc gia, hay trong một quốc gia, chánh án sẽ XEM XÉT BẰNG CHỨNG do chính quốc gia đó cung cấp, phải hợp lý, thì TRÁT TRUY NÃ hay LỆNH BẮT GIỮ mới được ký ban hành.

Điều trớ trêu là sau khi Assange bị hành nhiễu, dưới áp lực của dư luận và các luật gia, quốc hội Anh đã phải xem xét lại điểu khoản ký kết với Liên Âu về dẫn độ và đồng thuận coi như việc làm đối với Assange là sai trái, không đúng pháp luật…nhưng nhà nước Anh nhất định không chỉnh lý sự vụ Assange!!!

Assange đã bị bắt giữ tại gia, còng chân có báo động, với số tiền hầu tra gần nửa triệu Mỹ kim, do các ủng hộ viên quyên góp. Bị đối xử tệ hại hơn cả một kẻ đã có án sát nhân!!!

Phía Úc, không có một điều luật nào cho thấy Assange là tội phạm, nhưng chính phủ cứ nhắm mắt lên án Assange theo lệnh Mỹ bất chấp cả 200 chữ ký của các nhà luật gia khoa bảng cũng như chính trị gia kêu gọi chính phủ Úc phải thực hiện trách nhiệm với một công dân khi gặp vấn đề ở hải ngoại. Tệ hại hơn còn đồng lõa hăm dọa truy tố và  tước quyền công dân của Assange bất chấp nguyên lý  TẤT CẢ VÔ TỘI trước khi có ÁN CHỨNG MINH PHẠM TỘI.  Bộ ngoại giao đã không trợ giúp, báo chí Úc còn toa rập bôi nhọ.

Các cơ quan báo chí khác nhờ lấy tin từ Wikileaks, vừa đếm bạc, vừa tăng uy tín, như tờ The Guardian, thì lợi dụng tên tuổi Assange và Wikileaks để bán tin và tệ hại hơn, hai tên ký giả được Assange trao mật khẩu của khối hồ sơ đã công bố mật khẩu này, khiến Wikileaks phải giải mã toàn bộ hồ sơ. Bọn báo chí phim ảnh ký kết làm phim loan tin nhảm về Wikileaks buôn bán trao tay hàng chục triệu, trong lúc Wikileaks và nhóm Assange, Sarah Harrison bị vây khốn tài chính, nhưng vẫn ra tay trợ lực Edward Snowden thoát Hong Kong đến Nga và nhận tị nạn an toàn!

Tất cả dù đã sáng tỏ rằng đây là cả một kế hoạch đê tiện của nhà nước. Bọn chúng hãi sợ lòng quả cảm kiên trì làm việc có lý tưởng  của lớp người Julian Assange- và Wikileaks với những công bố tội ác của chúng. Công bố vạch mặt không chỉ tội ác nhà nước mà còn tố cáo lột trần sự thô bỉ tay sai của báo chí ký giả chính qui. Bọn này hẳn nhiên phải căm ghét Assange Wikileaks.  Chẳng có gì lạ lùng ngạc nhiên!

Theo đúng pháp lý do chính bọn chính phủ Âu Mỹ Úc rêu rao trong văn bản, thì Julian Assange phải được trả tự do ngay, nếu chưa muốn nói là còn được bồi thường. Hoặc chi ít, cũng đương nhiên được rời Anh đến Ecuador theo công ước ngoại giao quốc tế và công pháp về nhân quyền. Nhưng với quyền chính, tất cả những thứ pháp lý, luật lệ, công ước v.v chỉ là giẻ rách giấy lộn, nó chỉ cần khi áp dựng cho kẻ thất trận, nước nhỏ, hay cho dân chúng mà thôi.

Nhưng đám tay sai thừa hành, bọn nhân viên cảnh sát, an ninh v.v chúng vô cảm hành sự. Đám này mới trực diện vấy máu đồng loại. Và người dân, những kẻ tin thờ vào chủ nghĩa quốc gia nhà nước. những kẻ hôm nay đang sinh hoạt tại Luân Đôn, họ vô cảm với một nạn nhân đang bị bao vây chết mòn, ngay giữa thủ đô của họ, vì hành xử bênh vực dân quyền cho mọi người, cho chính họ. Trong khi họ gào thét chỉ tay lên án những ai khác ở Trung Đông, Á Châu, Phi Châu v.v là vi phạm nhân quyền nhân phẩm!

Óc quyền chính và “lòng tự hào” tự cho “dân mình”, xã hội mình là đặc biệt hơn người khác, đã biến toàn bộ những kẻ trong guồng máy của nhà nước tồi tệ hơn bầy sinh vật hoang dã! Nó biến những kẻ nằm trong đó trở nên bất cố liêm sỉ, cưỡng từ đoạt lý, và vô cảm với tha nhân rồi bạo ngược với chính họ! Chúng ta không tin điều này ư? Hãy nhìn lại chung quanh, hàng xóm, gia đình, thân bằng quyến thuộc, rồi soi gương để thấy những kẻ ích kỷ bất nhân vô cảm đang giúp tay cho bọn đầu não sát nhân đại ác gia hại bắt bớ những con người công chính quả cảm ở ngay thế kỷ 21 này, giữa lòng các xã hội dân chủ hôm nay, là ai.

Nguyên Khả Phạm Thanh Chương
19-11-2014

===
Theo bài tường thuật điều tra   
The siege of Knightsbridge is a farce.

For two years, an exaggerated, costly police presence around the Ecuadorean embassy in London has served no purpose other than to flaunt the power of the state. Their quarry is an Australian charged with no crime, a refugee from gross injustice whose only security is the room given him by a brave South American country. His true crime is to have initiated a wave of truth-telling in an era of lies, cynicism and war.

The persecution of Julian Assange must end. Even the British government clearly believes it must end. On 28 October, the deputy foreign minister, Hugo Swire, told Parliament he would “actively welcome” the Swedish prosecutor in London and “we would do absolutely everything to facilitate that”. The tone was impatient.

The Swedish prosecutor, Marianne Ny, has refused to come to London to question Assange about allegations of sexual misconduct in Stockholm in 2010 – even though Swedish law allows for it and the procedure is routine for Sweden and the UK. The documentary evidence of a threat to Assange’s life and freedom from the United States – should he leave the embassy – is overwhelming. On May 14 this year, US court files revealed that a “multi subject investigation” against Assange was “active and ongoing”.

Ny has never properly explained why she will not come to London, just as the Swedish authorities have never explained why they refuse to give Assange a guarantee that they will not extradite him on to the US under a secret arrangement agreed between Stockholm and Washington. In December 2010, the Independent revealed that the two governments had discussed his onward extradition to the US before the European Arrest Warrant was issued.

Perhaps an explanation is that, contrary to its reputation as a liberal bastion, Sweden has drawn so close to Washington that it has allowed secret CIA “renditions” – including the illegal deportation of refugees. The rendition and subsequent torture of two Egyptian political refugees in 2001 was condemned by the UN Committee against Torture, Amnesty International and Human Rights Watch; the complicity and duplicity of the Swedish state are documented in successful civil litigation and WikiLeaks cables. In the summer of 2010, Assange had been in Sweden to talk about WikiLeaks revelations of the war in Afghanistan – in which Sweden had forces under US command.

The Americans are pursuing Assange because WikiLeaks exposed their epic crimes in Afghanistan and Iraq: the wholesale killing of tens of thousands of civilians, which they covered up; and their contempt for sovereignty and international law, as demonstrated vividly in their leaked diplomatic cables.

For his part in disclosing how US soldiers murdered Afghan and Iraqi civilians, the heroic soldier Bradley (now Chelsea) Manning received a sentence of 35 years, having been held for more than a thousand days in conditions which, according to the UN Special Rapporteur, amounted to torture.

Few doubt that should the US get their hands on Assange, a similar fate awaits him. Threats of capture and assassination became the currency of the political extremes in the US following Vice-President Joe Biden’s preposterous slur that Assange was a “cyber-terrorist”. Anyone doubting the kind of US ruthlessness he can expect should remember the forcing down of the Bolivian president’s plane last year – wrongly believed to be carrying Edward Snowden.

According to documents released by Snowden, Assange is on a “Manhunt target list”. Washington’s bid to get him, say Australian diplomatic cables, is “unprecedented in scale and nature”. In Alexandria, Virginia, a secret grand jury has spent four years attempting to contrive a crime for which Assange can be prosecuted. This is not easy. The First Amendment to the US Constitution protects publishers, journalists and whistleblowers. As a presidential candidate in 2008, Barack Obama lauded whistleblowers as “part of a healthy democracy [and they] must be protected from reprisal”. Under President Obama, more whistleblowers have been prosecuted than under all other US presidents combined. Even before the verdict was announced in the trial of Chelsea Manning, Obama had pronounced the whisletblower guilty.
“Documents released by WikiLeaks since Assange moved to England,” wrote Al Burke, editor of the online Nordic News Network, an authority on the multiple twists and dangers facing Assange, “clearly indicate that Sweden has consistently submitted to pressure from the United States in matters relating to civil rights. There is every reason for concern that if Assange were to be taken into custody by Swedish authorities, he could be turned over to the United States without due consideration of his legal rights.”

There are signs that the Swedish public and legal community do not support prosecutor’s Marianne Ny’s intransigence. Once implacably hostile to Assange, the Swedish press has published headlines such as: “Go to London, for God’s sake.”

Why won’t she? More to the point, why won’t she allow the Swedish court access to hundreds of SMS messages that the police extracted from the phone of one of the two women involved in the misconduct allegations? Why won’t she hand them over to Assange’s Swedish lawyers? She says she is not legally required to do so until a formal charge is laid and she has questioned him. Then, why doesn’t she question him?

This week, the Swedish Court of Appeal will decide whether to order Ny to hand over the SMS messages; or the matter will go to the Supreme Court and the European Court of Justice. In high farce, Assange’s Swedish lawyers have been allowed only to “review” the SMS messages, which they had to memorise.
One of the women’s messages makes clear that she did not want any charges brought against Assange, “but the police were keen on getting a hold on him”. She was “shocked” when they arrested him because she only “wanted him to take [an HIV] test”. She “did not want to accuse JA of anything” and “it was the police who made up the charges”. (In a witness statement, she is quoted as saying that she had been “railroaded by police and others around her”.)

Neither woman claimed she had been raped. Indeed, both have denied they were raped and one of them has since tweeted, “I have not been raped.” That they were manipulated by police and their wishes ignored is evident – whatever their lawyers might say now. Certainly, they are victims of a saga worthy of Kafka.
For Assange, his only trial has been trial by media. On 20 August 2010, the Swedish police opened a “rape investigation” and immediately – and unlawfully – told the Stockholm tabloids that there was a warrant for Assange’s arrest for the “rape of two women”. This was the news that went round the world.
In Washington, a smiling US Defence Secretary Robert Gates told reporters that the arrest “sounds like good news to me”. Twitter accounts associated with the Pentagon described Assange as a “rapist” and a “fugitive”.

Less than 24 hours later, the Stockholm Chief Prosecutor, Eva Finne, took over the investigation. She wasted no time in cancelling the arrest warrant, saying, “I don’t believe there is any reason to suspect that he has committed rape.” Four days later, she dismissed the rape investigation altogether, saying, “There is no suspicion of any crime whatsoever.”  The file was closed.

Enter Claes Borgstrom, a high profile politician in the Social Democratic Party then standing as a candidate in Sweden’s imminent general election. Within days of the chief prosecutor’s dismissal of the case, Borgstrom, a lawyer, announced to the media that he was representing the two women and had sought a different prosecutor in the city of Gothenberg. This was Marianne Ny, whom Borgstrom knew well. She, too, was involved with the Social Democrats.

On 30 August, Assange attended a police station in Stockholm voluntarily and answered all the questions put to him. He understood that was the end of the matter. Two days later, Ny announced she was re-opening the case. Borgstrom was asked by a Swedish reporter why the case was proceeding when it had already been dismissed, citing one of the women as saying she had not been raped. He replied, “Ah, but she is not a lawyer.” Assange’s Australian barrister, James Catlin, responded, “This is a laughing stock… it’s as if they make it up as they go along.”

On the day Marianne Ny reactivated the case, the head of Sweden’s military intelligence service (“MUST”) publicly denounced WikiLeaks in an article entitled “WikiLeaks [is] a threat to our soldiers.” Assange was warned that the Swedish intelligence service, SAP, had been told by its US counterparts that US-Sweden intelligence-sharing arrangements would be “cut off” if Sweden sheltered him.

For five weeks, Assange waited in Sweden for the new investigation to take its course. The Guardian was then on the brink of publishing the Iraq “War Logs”, based on WikiLeaks’ disclosures, which Assange was to oversee. His lawyer in Stockholm asked Ny if she had any objection to his leaving the country. She said he was free to leave.

Inexplicably, as soon as he left Sweden – at the height of media and public interest in the WikiLeaks disclosures – Ny issued a European Arrest Warrant and an Interpol “red alert” normally used for terrorists and dangerous criminals. Put out in five languages around the world, it ensured a media frenzy.

Assange attended a police station in London, was arrested and spent ten days in Wandsworth Prison, in solitary confinement. Released on £340,000 bail, he was electronically tagged, required to report to police daily and placed under virtual house arrest while his case began its long journey to the Supreme Court. He still had not been charged with any offence. His lawyers repeated his offer to be questioned by Ny in London, pointing out that she had given him permission to leave Sweden. They suggested a special facility at Scotland Yard used for that purpose. She refused.

Katrin Axelsson and Lisa Longstaff of Women Against Rape wrote: “The allegations against [Assange] are a smokescreen behind which a number of governments are trying to clamp down on WikiLeaks for having audaciously revealed to the public their secret planning of wars and occupations with their attendant rape, murder and destruction… The authorities care so little about violence against women that they manipulate rape allegations at will. [Assange] has made it clear he is available for questioning by the Swedish authorities, in Britain or via Skype. Why are they refusing this essential step in their investigation? What are they afraid of?”

This question remained unanswered as Ny deployed the European Arrest Warrant, a draconian product of the “war on terror” supposedly designed to catch terrorists and organised criminals. The EAW had abolished the obligation on a petitioning state to provide any evidence of a crime. More than a thousand EAWs are issued each month; only a few have anything to do with potential “terror” charges. Most are issued for trivial offences, such as overdue bank charges and fines. Many of those extradited face months in prison without charge. There have been a number of shocking miscarriages of justice, of which British judges have been highly critical.

The Assange case finally reached the UK Supreme Court in May 2012. In a judgement that upheld the EAW – whose rigid demands had left the courts almost no room for manoeuvre – the judges found that European prosecutors could issue extradition warrants in the UK without any judicial oversight, even though Parliament intended otherwise. They made clear that Parliament had been “misled” by the Blair government. The court was split, 5-2, and consequently found against Assange.

However, the Chief Justice, Lord Phillips, made one mistake. He applied the Vienna Convention on treaty interpretation, allowing for state practice to override the letter of the law. As Assange’s barrister, Dinah Rose QC, pointed out, this did not apply to the EAW.

The Supreme Court only recognised this crucial error when it dealt with another appeal against the EAW in November last year. The Assange decision had been wrong, but it was too late to go back.

Assange’s choice was stark: extradition to a country that had refused to say whether or not it would send him on to the US, or to seek what seemed his last opportunity for refuge and safety. Supported by most of Latin America, the courageous government of Ecuador granted him refugee status on the basis of documented evidence and legal advice that he faced the prospect of cruel and unusual punishment in the US; that this threat violated his basic human rights; and that his own government in Australia had abandoned him and colluded with Washington. The Labor government of prime minister Julia Gillard had even threatened to take away his passport.

Gareth Peirce, the renowned human rights lawyer who represents Assange in London, wrote to the then Australian foreign minister, Kevin Rudd: “Given the extent of the public discussion, frequently on the basis of entirely false assumptions… it is very hard to attempt to preserve for him any presumption of innocence. Mr. Assange has now hanging over him not one but two Damocles swords, of potential extradition to two different jurisdictions in turn for two different alleged crimes, neither of which are crimes in his own country, and that his personal safety has become at risk in circumstances that are highly politically charged.”
It was not until she contacted the Australian High Commission in London that Peirce received a response, which answered none of the pressing points she raised. In a meeting I attended with her, the Australian Consul-General, Ken Pascoe, made the astonishing claim that he knew “only what I read in the newspapers” about the details of the case.

Meanwhile, the prospect of a grotesque miscarriage of justice was drowned in a vituperative campaign against the WikiLeaks founder. Deeply personal, petty, vicious and inhuman attacks were aimed at a man not charged with any crime yet subjected to treatment not even meted out to a defendant facing extradition on a charge of murdering his wife. That the US threat to Assange was a threat to all journalists, to freedom of speech, was lost in the sordid and the ambitious.

Books were published, movie deals struck and media careers launched or kick-started on the back of WikiLeaks and an assumption that attacking Assange was fair game and he was too poor to sue. People have made money, often big money, while WikiLeaks has struggled to survive. The editor of the Guardian, Alan Rusbridger, called the WikiLeaks disclosures, which his newspaper published, “one of the greatest journalistic scoops of the last 30 years”. It became part of his marketing plan to raise the newspaper’s cover price.

With not a penny going to Assange or to WikiLeaks, a hyped Guardian book led to a lucrative Hollywood movie. The book’s authors, Luke Harding and David Leigh, gratuitously described Assange as a “damaged personality” and “callous”. They also revealed the secret password he had given the paper in confidence, which was designed to protect a digital file containing the US embassy cables. With Assange now trapped in the Ecuadorean embassy, Harding, standing among the police outside, gloated on his blog that “Scotland Yard may get the last laugh”.

The injustice meted out to Assange is one of the reasons Parliament will eventually vote on a reformed EAW. The draconian catch-all used against him could not happen now; charges would have to be brought and “questioning” would be insufficient grounds for extradition. “His case has been won lock, stock and barrel,” Gareth Peirce told me, “these changes in the law mean that the UK now recognises as correct everything that was argued in his case. Yet he does not benefit. And the genuineness of Ecuador’s offer of sanctuary is not questioned by the UK or Sweden.”

On 18 March 2008, a war on WikiLeaks and Julian Assange was foretold in a secret Pentagon document prepared by the “Cyber Counterintelligence Assessments Branch”. It described a detailed plan to destroy the feeling of “trust” which is WikiLeaks’ “centre of gravity”. This would be achieved with threats of “exposure [and] criminal prosecution”. Silencing and criminalising this rare source of independent journalism was the aim, smear the method. Hell hath no fury like great power scorned.

For important additional information, click on the following links:
http://justice4assange.com/extraditing-assange.html
http://www.independent.co.uk/news/uk/crime/assange-could-face-espionage-trial-in-us-2154107.html
https://www.youtube.com/watch?v=1ImXe_EQhUI
http://pdfserver.amlaw.com/nlj/wikileaks_doj_05192014.pdf
https://wikileaks.org/59-International-Organizations.html
https://s3.amazonaws.com/s3.documentcloud.org/documents/1202703/doj-letter-re-wikileaks-6-19-14.pdf
URL of the article: http://johnpilger.com/articles/the-siege-of-julian-assange-is-a-farce-a-special-investigation 

The real reason why Assange is not questioned in London: “A matter of prestige”

Publicerad 21 augusti 2012 kl 20.12

Politik.Last Friday, a Swedish professor of international law stated that the reason why the prosecutor will not question Julian Assange in London is that it has become ”a matter of prestige” not to do so. The following day, the Swedish Ministry of Foreign Affairs commented that Assange must come to Sweden because it is not up to him to ”dictate the terms”. It seems increasingly clear that the prosecutor’s refusal to accept Assange’s offer to be interviewed in London has much to do with prestige and little with law.
One of the most vexing questions in the Assange case is why the Swedish prosecutor insists on having him extradited to Sweden, instead of simply questioning him in London. A long series of contradictory explanations has been provided by the Swedish Prosecution Authority throughout the proceedings.
In the early stages of the extradition process, the prosecutor in charge of the case, Marianne Ny, frequently claimed that British as well as Swedish law prevented her from interrogating Assange anywhere but in Sweden. Some examples: On 20 November 2010, Ms. Ny was quoted as saying that Swedish law prevented her from questioning Assange by video link or at an embassy in London. On 3 December the same year Ms. Ny told TIME Magazine that she could not legally interview Assange by telephone or video link. She made similar comments two days later, claiming that it was impossible to question Assange in London.
Two months later, Ms. Ny suddenly changed her story. In a witness statement submitted in the extradition proceedings in London, dated 4 February 2011, she admitted that it was possible for her to interview Assange in London within the framework of a system for legal co-operation called Mutual Legal Assistance. However, Ms. Ny claimed, that would not be ”an appropriate course” to take, because she considered it necessary to interrogate Assange ”in person”.
The legal basis for Ms. Ny’s comments appears dubious, to say the least. The rules setting out the procedures for Mutual Legal Assistance make clear that a foreign prosecutor can question a suspect in the UK by telephone, videolink, or through British police (see Mutual Legal Assistance Guidelines for the United Kingdom, 8th edition, pp. 15, 20 and 29). If the latter option is used, it is possible for officers from the foreign state to be present during the interview. In fact, Ms. Ny had a wide range of options for interrogating Assange in the UK: by telephone, video link or by interviewing him in person, together with British police.
As for Swedish law, there are no provisions preventing prosecutors from interrogating suspects abroad. Doing so is, in fact, a routine matter. An example: In late 2010, at roughly the same time that Ms. Ny decided to issue a European Arrest Warrant for Assange, Swedish police officers went to Serbia to interview a well-known gangster suspected of involvement in an armed robbery. The interview was conducted in co-operation with Serbian police. Thus, at the same time that Ms. Ny claimed it was an impossibility to interview the founder of Wikileaks in London, her colleagues were busy interrogating an infamous gangster in Serbia.
In a radio interview last Friday, a Swedish professor emeritus of international law, Ove Bring, confirmed that there are no legal obstacles whatsoever preventing Ms. Ny from questioning Assange in London. When asked why the prosecutor would not do so, Professor Bring responded that ”it’s a matter of prestige not only for prosecutors, but for the Swedish legal system”. Professor Bring also stated that the charges against Assange would probably have to be dropped following an interview, since “the evidence is not enough to charge him with a crime”.
Last Saturday, Fria Tider sent a message to the Ministry’s official Twitter channel, asking if Professor Bring was right in saying that the reason why the prosecutor would not interrogate Assange in London was ”prestige”.  After a short exchange of messages, the Ministry provided the following response:
“You do not dictate the terms if you are a suspect. Get it?”
In an opinion piece published last Sunday in Sweden’s largest daily Dagens Nyheter, two Swedish journalists claimed that Marianne Ny had privately stated that she would not change her position on Assange even if she were wrong.
Today, two years after Assange was first questioned by Swedish police in Stockholm, it seems increasingly clear that the reason why he has not been interviewed again has very much to do with prestige and little to do with law.

Friends of Pol Pot

Print

By John Pilger
The Nation
May 1, 1998

 


“It is my duty,” wrote the correspondent for The Times of London at the liberation of the Nazi death camp at Belsen, “to describe something beyond the imagination of mankind.” That was how I felt in the summer of 1979 when I arrived in Cambodia. In the silent humidity, houses, office blocks, hotels and schools stood empty, as if vacated that day. In the ruined National Bank, blown up by the retreating Khmer Rouge, a pair of spectacles rested on a ledger. When the afternoon monsoon broke, the streets nearby ran with money as thousands of brand-new banknotes washed away in the gutter. Children, orphans, collected and dried them for fuel; I can still hear the crackle as the money burned.
As if in a mirage, a pyramid of cars rose on a football field. it included an ambulance, a fire engine, police cars, refrigerators, washing machines, TV sets, telephones and typewriters. It was as if these had been swept there by a gigantic broom on April 17, 1975 – Year Zero in Pol Pot’s calendar. From that date, anybody who had owned them, anybody who had lived in a city or town, or anybody who knew or worked with foreigners was in mortal danger. More than a million and a half would die – although recent discoveries of mass graves by a Yale University team suggest that this figure may be a gross underestimate. During the three years and eight months they held power, Pol Pot and his medievalists may have put to death a third of the nation.
It is all too easy and too dangerous to remember Pol Pot as a unique monster. What is remarkable about the US. coverage of his death is the omission of U.S. complicity in his rise to power, a complicity that sustained him for almost two decades. For the truth is that Pol Pot and the Khmer Rouge would be historical nonentities – and a great many people would be alive today had Washington not helped bring them to power and the governments of the United States, Britain, China and Thailand not supported them, armed them, sustained them and restored them. In other words, the iconic images of the piles of skulls ought to include those who, often at great remove in distance and culture, were Pol Pot’s accessories and Faustian partners for the purposes of their own imperial imperatives.
To hear Henry Kissinger deny recently that the United States and especially the Nixon Administration bore any responsibility for Cambodia’s horror was to hear truth denigrated and our intelligence insulted. For Cambodia’s nightmare did not begin with Year Zero but on the eve of the U.S. land invasion of neutral Cambodia in 1970. The invasion provided a small group of extreme ethnic nationalists with Maoist pretensions, the Khmer Rouge, with a catalyst for a revolution that had no popular base among the Cambodian people. Between 1969 and 1973, U.S. bombers killed perhaps three-quarters of a million Cambodian peasants in an attempt to destroy North Vietnamese supply bases, many of which did not exist. During one six-month period in 1973, B-52s dropped more bombs on Cambodians, living mostly in straw huts, than were dropped on Japan during all of World War II, the equivalent of five Hiroshimas. Evidence from U.S. official documents, declassified in 1987, leaves no doubt that this US. terror was critical in Pol Pot’s drive for power. “They are using [the bombing] as the main theme of the propaganda reported the C.I.A. Director of Operations on May 2, 1973. “This approach has resulted in the successful recruitment of a number of young men [and] the propaganda has been most effective among refugees subjected to B-52 strikes.”
What Kissinger and Nixon began, Pol Pot completed. Had the United States and China allowed it, Cambodia’s suffering could have stopped when the Vietnamese finally responded to years of Khmer Rouge attacks across their border and liberated the country in January 1979. But almost immediately the United States began secretly backing Pol Pot in exile. Direct contact was made between the Reagan White House and the Khmer Rouge when Dr. Ray Cline, a former deputy director of the C.I.A., made a clandestine visit to Pol Pot’s operational base inside Cambodia in November 1980. Cline was then a foreign policy adviser to President-elect Reagan. Within a year some fifty C.I.A. and other intelligence agents were running Washington’s secret war against Cambodia from the U.S. Embassy in Bangkok and along the Thai-Cambodian border. The aim was to appease China, the great Soviet foe and Pol Pot’s most enduring backer, and to rehabilitate and use the Khmer Rouge to bring pressure on the source of recent U.S. humiliation in the region: the Vietnamese. Cambodia was now America’s “last battle of the Vietnam War,” as one U.S. official put it, “so that we can achieve a better result.”
Two U.S. relief aid workers, Linda Mason and Roger Brown, later wrote, “The US. government insisted that the Khmer Rouge be fed … the U.S. preferred that the Khmer Rouge operation benefit from the credibility of an internationally known relief operation.” In 1980, under U.S. pressure, the World Food Programme handed over food worth $12 million to pass on to the Khmer Rouge. In that year, I traveled on a U.N. convoy of forty trucks into Cambodia from Thailand and filmed a U.N. official handing the supplies over to a Khmer Rouge general, Nam Phan, known to Western aid officials as The Butcher. There is little doubt that without this support and the flow of arms from China through Thailand the Khmer Rouge would have withered on the vine.
If the US. bombing was the first phase of Cambodia’s holocaust and Pol Pot’s Year Zero the second, the third phase was the use of the United Nations by Washington, its allies and China as the instrument of Cambodia’s, and Vietnam’s, punishment. With Vietnamese troops preventing the return of the Khmer Rouge and a Hanoi-installed regime in Phnom Penh, a UN. embargo barred Cambodia from all international agreements on trade and communications, even from the World Health Organization. The U.N. withheld development aid from only one Third World country: Cambodia, which lay unreconstituted from the years of bombing and neglect. For the United States the blockade was total. Not even Cuba and the Soviet Union were treated this way.
If on his deathbed Pol Pot had felt moved to offer thanks to his Western collaborators, he surely would have made special mention of an unworkable UN “peace plan” imposed by the West and China in 1992. At the insistence of Washington and Beijing, the Khmer Rouge was included in the UN operation as a legitimate “warring faction”; the rationale was that they were far too powerful to be left out. Since then, the argument has been turned upside down. Thanks to the “triumph” of the UN in Cambodia, the Khmer Rouge has “virtually disappeared.” In 1993 the UN.’s military maps showed that in half of Cambodia, Pol Pot had a military advantage he did not have before the UN arrived. “You must understand the UN spokesman in Phnom Penh, Eric Falt, told me in 1992, “the peace process was aimed at allowing the Khmer Rouge to gain respectability.”
I watched Khmer Rouge officials welcomed back to Phnom Penh by U.N. officials who went to astonishing lengths not to offend them. Khieu Samphan, Pol Pot’s henchman who once said that the only mistake the Khmer Rouge had made was not killing enough people, took the salute of US. and other U.N. troops as a guest of honor on United Nations Day in Phnom Penh.
The West, with the UN as its vehicle, brought to Cambodia elections, the “free market,” AIDS and massive corruption, all of it reminiscent of the surreal and violent days in the early seventies when the B-52s were bombing the countryside and the Khmer Rouge was infiltrating the cities and towns. The fact that this process of infiltration is under way again was one of the reasons Carnbodia’s “second prime minister,” Hun Sen, last year attacked the forces and supporters of the “first prime minister,” Prince Ranariddh, who in exile had been the leader of the Khmer Rouge dominated coalition.
Are the Khmer Rouge now finished? I doubt it. The more pertinent question is: Will those foreign governments that backed Pol Pot while wringing their hands now help rebuild the country they helped devastate? Henry Kissinger appeared to answer this when he said, “Why should we flagellate ourselves for what the Cambodians did to each other?”
Advertisements