Nguyên Khả Phạm Thanh Chương

 
Ở đầu thế kỷ 21 này, ngồi duyệt lại sách Luận Ngữ từng giòng một mà lòng không tránh được những cảm khái, thở dài. Cách đây hơn 80 năm cụ Phan Tây Hồ đã than khổ về nỗi “nho sĩ” Việt Nam (Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây) hơn mấy ngàn năm, học Khổng Nho, dùng tên Khổng Nho làm nền tảng, mà chẳng hiểu gì , thậm chí hiểu sai hết, sai tai hại đến nhu nhược cả dân tộc.

Đọc đến chương Công Dã Tràng, bất nhẫn không cầm lòng được , đành tạm ngưng để viết vài lời bàn bạc: Tử viết: Ninh võ Tử, bang hữu đạo, tắc tri; Bang vô đạo tắc ngu. Kỳ tri, khả cập dã. Kỳ ngu, bất khả cập dã. (5:21)子曰:「甯武子,邦有道,則知;邦無道則愚。其知可及也,其愚不可及也。 Khổng tử khen: “Ninh võ Tử (quan nước Vệ) khi nước có đạo (nghĩa yên ổn) thì làm người biết (kẻ Trí). Khi nước vô đạo (nghĩa băng hoại), thì làm như người ngu (dại dột). Chỗ biết của ông ấy ngưòi ta có thể theo kịp. Chỗ ngu dại của ông ấy, người ta không thể theo kịp. (sử chép: Ninh võ Tử, làm quan hai đời vua nước Vệ. (Văn Công và Thành Công). Đời Văn Công vua giỏi, nước thịnh trị, ông làm quan bình thường. Đến đời Thành Công, vua bất tài, nước loạn. Ông tận hết sức không ngại an nguy gian khổ làm đủ cách, ra sức đi vận động để sửa đổi tình thế. Những kẻ học sĩ , trí thức thời đó, cho ông là ngu dại, tự tìm khổ, gieo họa vào thân.)

Cách đây mấy ngàn năm, ngưòi ta đã cùng nhau “tẩy chay” sự “ngu đần dại dột” của Khổng tử cùng học trò ông, ngưòi ta “khôn ngoan” rủ nhau thức thời hết cả: một, là im lặng đi ở ẩn, hai, là a dua theo thời cuộc đoạt lợi bất chấp đạo-đức (đạo đức chứ không phải luân lý, như cụ Phan Chu Trinh đã diễn giải rõ ràng) . Không ai làm kẻ ngu dại như Ninh Võ Tử, như thầy trò ông Khổng: Xả thân vào đời, cố gắng thay đổi nó cho tốt hơn, với cái giá phải trả là bôn ba, cực khổ thiếu thốn, bị săn đuổi, cái thiếu thốn bị săn đuổi mà đại đa số không muốn chấp nhận.

Nhìn chung thế giới hôm nay, những xã hội nơi con người có đời sống cao, tương đối hạnh phúc là những nơi có nhiều “hạng ngưòi ngu dại”, không” thức thời” ở ẩn hay a dua, mà họ xả thân lên tiếng cho lẽ phải, công lý và nhân phẩm, với cái giá bị trù ếm, phiền phức của an ninh chế độ săn đuổi. Mà thật ra giá trị con ngưòi được xác định ở mức độ rộng rãi như hôm nay là do công sức, xương máu của những con ngưòi “ngu dại” này liên tục cả mấy ngàn năm. Họ ngu dại rủ nhau, vận động nhau chống lại nhà nưóc cường quyền, bất chấp an nguy bản thân, tù tội tử hình, đòi cho bằng được quyền làm con ngưòi, quyền công dân kiểm soát nhà nước. Dĩ nhiên trong những xã hội tiến bộ này cũng chẳng thiếu gì kẻ “trí” , biết cách “phi chính trị”, đi làm ngày hai buổi, đóng thuế ,và cho đó là đóng góp cho xã hội, nhưng không chừa một cơ hội, thủ thuật nhỏ nào để trốn thuế, để có tiền dù bất hợp pháp, vô đạo đức! Họ cũng lý sự để gác ngoài những chưyện chính trị xã hội, cũng cho đó là việc “vọng động, ngu dại, chẳng ích gì”, chỉ có hại cho quyền lợi bản thân gia đình! Nhưng dẫu sao, những xã hôi này họ vẫn có nhiều “kẻ ngu” để cân bằng với đám đông “thức thời”.

Nhìn lại những xã hội còn lạc hậu, con ngưòi khổ cực, chìm đắm trong nô lệ cường quyền, đều có chung một đặc tính di truyền cực kỳ mâu thuẫn và nghịch lý: là tất cả đều trọng quyền lực, ham quyền lực. Kẻ thường dân thì nhẫn nhịn an phận, chỉ lo “cơm no áo ấm”, Kẻ khoa bảng, có điều kiện, thì đủng đỉnh “thanh nhàn ẩn dật”. Nhưng trong thâm tâm, tất cả đều chờ cơ hội sẵn sàng thỏa hiệp nhập chính, hợp tác với cường quyền dưói mọi hình thức để an thân, để mưu lợi, bất chấp đạo đức. Họ đều tự nhủ và ngay cả khuyên nhau nên “biết thời thế”, biêt làm kẻ “trí” trong buổi nhiễu nhương. Hầu như toàn bộ đều tụng niệm mong chờ “nhà nước” sẽ thay đổi và làm cho đời sống vật chất của họ khá hơn. Không một ai mong mỏi trăn trở cho giá trị con người của mình được tôn trọng, và càng không nghĩ đến việc buộc nhà nước, kẻ cầm quyền phải tôn trọng họ, Họ chỉ biết tôn trọng “nhà nước.” Nhà nước là nơi có “quyền” lấy và cho. Họ là ngưòi có bổn phận dâng hiến phục vụ và xin xỏ năn nỉ, rồi kêu oan khi bị đối xử cùng cực..

Không một ai biết phẫn nộ. Phẫn nộ, với họ là hành động “ngu dại”, nhất là phẫn nộ với quyền lực nhà nước. Riêng trong giữa những “nhóm xã hội Việt Nam” hôm nay, trong cũng như ngoài đất nước, những kẻ “ngu dại” kiểu Mạnh Tử, Ninh Võ Tử vẫn hiếm hoi cô độc giữa đám người “khôn ngoan dân giả” cùng những ông “Lão” ông “Trang” “thời đại” với đầy đủ mớ kiến thức lý luận lấp ló quyền lực, nhưng vắng bóng hẳn cái ngang tàng khinh thị quyền chính, bất chấp bạo lực, phi chính phủ của Lão Trang. Cái lớp ngưòi khoa bảng lợn cợn của Việt Nam nhung nhúc những kẻ “ẩn nhẫn chờ thời”, thập thò cửa quyền lực. Lý luận vòng vo chung quanh “cơm no áo ấm”, đồng hóa nó vào “ổn định phát triển”, vào “tuân thủ pháp luật”… Không hề nghe bàn đến nhân phẩm, đến quyền con ngưòi, quyền ngưòi dân, mà căn bản của những giá trị này là tinh thần thường trực đối kháng quyền bính nhà nước, quyền lực phe đảng.

Con người Việt Nam, đặc biết giới khoa bảng Việt Nam, đi đến đâu, ở nơi nào, họ cũng giữ cái não trạng bày đàn: tôn thờ sùng bái quyền lực. Họ chọn xu thế, phe phái quyền lực để sùng bái, phục vụ, chứ không hề có nhận thức đối kháng quyền lực để bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền, dân quyền. Tất cả những giá trị mà Khổng Nho tập trung vào chữ Nhân (仁) bàng bạc trong Luận Ngữ; và Mạnh Tử đặt hết vào chữ Dân, xuyên suốt trong toàn bộ sách MạnhTữ. (Dân vi quí, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh 民為貴.社稷次之,君為輕. Mạnh Tử:Tận tâm hạ).

Ấy thế, nhưng khi thất bại, khi chính họ làm tàn mạt và đê tiện hóa bản thân và xã hội, dân tộc của họ, họ quay ra đổ thừa cho Khổng Nho. Một lũ khoa bảng quèn vừa dốt Đông vừa ngu Tây, bất lực bất tài, vô đức, bất đạo phi nghĩa, tận hết lực biện minh giả chứng cho đống rác lịch sử của mình, của phe mình, do chính mình tạo ra… bằng cách đổ lên đầu Khổng Nho tất cả những cái mà chúng nó suy nghĩ hành xử; hành xử từ trưóc cho đến ngay bây giờ vẫn tiếp tục không suy giảm hay hối cải. Chúng nó, những tên cựu viên chức chế độ, (ngụy lẫn phỉ), những khoa bảng thời đại trong và ngoài Việt Nam, không hề hiểu biết gì về Khổng Nho, không theo lấy được một điểm nhỏ của Khổng Nho, vẫn cứ ra rả “diễn giảng” để lên án những cái tồi bại băng hoại của chính chúng nó, (như nịnh bợ, xu phụ quyền lực, tàn hại, ngụy tín, bất nhân) nhưng lại gán ghép cho Khổng Nho.

Khổng Nho coi sự lạm quyền, bạo lực hại dân, vị trí quốc trưởng lãnh đạo cũng như tên vũ phu đê hèn mà thôi, khi nó xúc phạm đến nhân phẩm mình, tác hại quần chúng xã hội, đất nước, thì chẳng ngại gì mà không loại bỏ nó. (Thị thích vạn thặng chi quân, nhược thích hạt phu (視剌萬乘之君若剌褐夫) ” Khinh bỉ giết một ông vua có vạn chiến xa thì cũng không khác việc giết một kẻ hèn mạt, (khi bị một trong hai kẻ này xúc phạm mình)” (Mạnh Tử-Công Tôn Sửu thượng:

2). (Viết: Thần Thí Kỳ Quân, Khả hồ?- Viết: Tặc nhân giả, vị chi tặc, tặc nghĩa giả vị chi tàn. Tàn tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn tru nhất phu Trụ hĩ. Bất văn thí quân dã 曰:「臣弒其君,可乎?」 曰:「賊仁者謂之『賊』,賊義者謂之『殘』。殘賊之人謂之『一夫』。聞誅一夫紂矣,未聞弒君也: ) Mạnh tử: Lương Huệ Vương Hạ) Mạnh tử được hỏi: “Bầy tôi mà giết vua (Trụ Vương) ? Như vậy được không? Mạnh Tử đáp: Kẻ làm hại lòng nhân, gọi là tặc; Kẻ làm hại nghĩa gọi là tàn. Kẻ tàn tặc chỉ là một đưá hèn mạt. Ta chỉ nghe nói tru diệt một đứa hèn mạt tên Trụ thôi, chứ không nghe nói giết vua bao giờ! (1)

Và khi làm đúng, những việc một con ngưòi cần phải làm, thì tất cả bình đẳng, không có khác biệt. (Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. 自天子以至於庶人,壹是皆以脩身為本。Đại Học) Từ bậc Vua đến ngưòi bình dân, đều phải lấy việc tu chỉnh giáo dục phát triển bản thân mình làm căn bản. Cái đại học là của mọi ngưòi, không chỉ là của giới “khoa bảng” hay “quyền thế lãnh đạo”. Mà ngay trong cái học, cái “nho” cũng có cái mới, cái cũ, cái tốt, cái xấu. Khổng Tử cũng luôn nhắc nhở học trò “nho sĩ” của mình như vậy: (Tử vị Tử Hạ viết: Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho 女為君子儒, 無為小人儒 – Ung dã 雍也) Khổng Tử dạy Tử Hạ rằng: Ngươi hãy làm nhà nho quân tử, đừng làm nhà nho tiểu nhân. Theo Khổng Nho, học rộng, biết nhiều và có khí tiết, lễ nghĩa, liêm sỉ ,nhân trí gọi là Quân Tử Nho; Còn học nhiều, biết nhiều, mà hành xử không có khí tiết liêm sỉ, chỉ là hạng tiểu nhân nho. Với Khổng Nho, khí tiết liêm sỉ, quyết định giá trị con ngưòi, vượt trên hẳn cái “biết nhiều” (erudition) của khoa bảng.

Tất cả là Trí của Nhân và Trí của Dân. Chính bản thân chúng nó, những đứa đang cầm quyền, những tên khoa bảng, những đứa mất quyền bỏ chạy, những tên chống cộng hải ngoại.. tồi bại hư hỏng, kém cỏi dân trí, đã và đang áp đặt quyền lực, đẩy ngưòi dân vào bần cùng, hạ thấp dân trí của xã hội, rồi đổ vấy lên “văn hoá” , lên “Khổng Nho” khi đất nưóc thậm lụt băng hoại. Giờ đây lại quay ra khệnh khạng kêu gào ngưòi dân thay đổi theo “Tây phương”, cái “Tây Phương” mà chính chúng nó cũng không hiểu, không học, và không hành xử được một phần nhỏ nào. Những cái Tây phương như Thomas Paine, như Thomas Jefferson v.v Khai triển dân trí (giáo dục và thông tin) đến toàn bộ quần chúng.. Đó chính là điều tín nhiệm nương tựa vững chắc duy nhất để duy trì nền tự do của chúng ta (Educate and inform the whole mass of the people… They are the only sure reliance for the preservation of our liberty); Thông tin chính là bản vị của dân chủ (Information is the currency of democracy); Tất cả chính phủ đều băng hoại khi chỉ được đặt vào tay kẻ cai trị quần chúng. Chính quần chúng mới là nơi gửi gắm an toàn nhất (Every government degenerates when trusted to the rulers of the people alone. The people themselves are its only safe depositories); Bạo lưc là nguyên lý sống còn và chính là cha mẹ của chuyên quyền độc tài (Force is the vital principle and immediate parent of despotism); Chỉ có sai phạm dối trá mới cần (luật) nhà nưóc yểm trợ. Sự Thật tự nó đúng vững (It is error alone which needs the support of government. Truth can stand by itself); Khi quần chúng sợ hãi nhà nước chính phủ, đó chính là nền chuyên chế bạo ngược. Khi nhà nước chính phủ sợ hãi quần chúng, đó chính là chính thể Tự Do (When the people fear their government, there is tyranny; when the government fears the people, there is liberty); Tất cả đều sẽ phải nhớ nguyên lý linh thiêng này, rằng dù nguyện vọng của đa số lúc nào cũng thắng, nguyện vọng đó phải chính đáng và hữu lý; rằng thiểu số cũng sở hữu những quyền bình đẳng của họ mà luật công bằng phải bảo vệ, mà nếu vi phạm đó sẽ chính là áp bức (All, too, will bear in mind this sacred principle, that though the will of the majority is in all cases to prevail, that will to be rightful must be reasonable; that the minority possess their equal rights, which equal law must protect, and to violate would be oppression) -Thomas Jefferson nhà cách mạng dân chủ, tổng thống Mỹ.)

Hay thậm chí điển hình trước mắt như John Perkin, Noam Chomsky, Howard Zinn v.v Hành xử đúng với sự chân thẳng và can đảm, tố cáo sự gian manh tàn độc của chính nhà nưóc, quốc gia của mình để bênh vực, cảnh tỉnh quần chúng của họ và quần chúng thế giới về tội ác của quốc gia, chính phủ của họ.. Họ sòng phẳng , công khai như “Lời thú tội của tên sát thù kinh tế” (Confession of the Economics Hitman: John-Perkin) hay “Thống trị hay sinh tồn- Nỗ lực thống trị toàn cầu của Mỹ”- (Hegemony or Survival -America’s Quest for Global dominance-Chomsky) …

Tất cả cũng quy vào Nhân ( nhân phẩm, nhân dạo) và Dân (dân chủ , dân quyền), sự ngay thẳng can đảm đối kháng nhà nước để bênh vực, thức tỉnh công chúng. Những cái “rất Tây phương” này, những tên khoa bảng Việt Nam, những đứa chống cộng, chúng nó không hề nhắc nhở khai triển. Bởi chúng nó không đủ thiện tâm, chính niệm để theo kịp. Chúng nó vẫn chỉ xu phụ, nịnh bợ quyền lực. Hết chạy đầu này, lại quay qua đầu kia. Không miệt mài tỉ tê ôm cái xác của Ngụy, thì cũng nức nở trên cái xác khô của phỉ Hồ; không ve vãn phỉ Cộng đương quyền, thì cũng ôm mông, tâng bốc trông chờ bọn Mỹ man rợ. Đông không ra Đông , mà Tây cũng chẳng ra Tây. Bọn này chỉ là một lũ lợn cợn, nửa ngưòi nửa ngợm. Một lũ thất phu, thất trận, thất bại, thất tín, và thất học…chỉ học những cái rác rưỏi băng hoại. Cái dốt Đông và ngu Tây của chúng nó là như vậy.

Chúng nó tự cho cái “giới trí thức” của chúng nó cái quyền được dạy quần chúng, chỉ đạo quần chúng vì quần chúng kém cỏi; chúng nó, và chỉ có chúng nó mới có đủ khả năng “trách nhiệm” “cầm quyền lực” để thực hiện những điều “tốt đẹp” cho quần chúng; và dĩ nhiên khi nắm được quyền, thì “vì, dân trí thấp, không ai có khả năng hơn “giới trí thức” của chúng nó, cho nên “vì quần chúng quốc gia xã hội, tiền đồ dân tộc”, chúng nó “đành lại phải độc tài” để thực hiện những “tài ba kinh bang tế thế” của chúng nó. Cái lối bao biện của bọn phỉ Hồ, lũ ngụy Diệm luôn luôn là như vậy. Bố khỉ, chính lũ ngưòi khoa bảng này mới cần học hỏi và thay đổi. Thay đổi để về kịp với Đông và bắt kịp với Tây.

Hãy thử hỏi đám ngưòi Việt Kiều (ngay cả Việt Nam trong nước) nói chung, và đám Mỹ gốc ngụy nói riêng, có bao nhiêu người có được nổi ý niệm dân chủ bình đẳng để ủng hộ úng cử viên đảng dân chủ da đen Obama? Hay cũng chỉ xì xầm thò thụp nắm gấu quần những ứng viên khác chỉ vì họ là ngưòi da trắng? Trong khi vẫn kêu gào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam, hòa bình, bình đẳng cho thế giới, nhưng lại nhập tâm “cái học kỳ thị mầu da” rác rưởi của Tây phương, của Mỹ, đống rác mà chính người Tây phương, người Mỹ đang cố tìm cách xóa bỏ. Cái “ngu” của Tây phương Thomas Paine, Noam Chomsky, John Perkin v.v của Đông phương Ninh Võ Tử, quả thật thiên hạ khó có thể theo kịp. Những tên khoa bảng Việt Nam, ngụy ngoài hay phỉ trong, thì chẳng bao giờ theo kịp. Ngay cả cái “trí” nhỏ của ông Ninh Võ Tử để phục vụ “nhà nưóc khi thịnh trị” mà chúng nó đã từng có cơ hội, cũng còn không làm được. Huống hồ gì!!! Cụ Phan Chu Trinh, suốt cuộc đời trong lúc đất nưóc tan hoang, cũng làm như “kẻ ngu dại,” không “thức thời”: hiểu ngược với mọi người, xả thân làm ngược với mọi người, nói ngược với mọi người. Bọn phỉ Hồ chí Minh vẫn bảo cụ ngu dại sai lầm. Lũ ngụy chống cộng cũng từng nói cụ ngu dại ngớ ngẩn, không thực tế.

Chúng nó tất cả chỉ là đám dòi bọ “khôn ngoan”.Cái “khôn ngoan đúng đắn” của chúng nó, những thằng ngụy tay sai Mỹ, những tên phỉ tay sai Tầu, chính là kết quả hiện trạng nửa thế kỷ đầy những chiến tranh tương tàn man rợ, những cuộc tàn sát ghê tởm đồng bào trẻ thơ Việt Nam của lính Mỹ, và hôm nay dân trí thấp kém, xã hội băng hoại, tổ quốc hư hao.

Anh chị em thanh niên Việt Nam hôm nay, hãy lờ chúng nó đi, và làm như kẻ ngu Ninh Võ Tử , Phan Chu Trinh vậy. Bang vô đạo tắc ngu. Đất nước, xã hội Việt Nam của chúng ta đã vô đạo hơn nửa thế kỷ qua rồi, đang cần nhiều ngưòi “ngu” Ninh Võ Tử ,Phan Chu Trinh, và cả như John Perkin.

9-5-2008

(1) Xin lưu ý cách dùng chữ của Mạnh Tữ: Thích (剌)= khinh giết; Thí (弒) kẻ dưới giết bậy ngưòi trên . Tru (誅) Giết, kể rõ tội lỗi ra mà giết đi.

(2) Ghi Chú ngoại lề:

Chính Trị trong Khổng Học có nghĩa  là lấy cái “ngay thẳng chính đáng” 正 (政) để làm cho – sửa chữa sắp xếp (治) xã hội “an bình sung túc” (治)

Từ 政治 chính trị  trong đó chữ  政 đồng nghĩa với chữ 正, chỉ là cách viết khác gọi là “dị thể” hay trong anh ngữ là variant . Ngay chữ Trị ((治) cũng có nhiều cách viết khác nhau, cách phát âm khác và mang ý nghĩa khác, như khi đọc là “trì” và có nghĩa khác là trừng trị.

Cần nhớ chữ Hán hay bất kỳ ngôn ngữ  nào cũng đầu có những chữ cùng nghĩa nhưng viết khác nhau, cùng chữ nhưng có nhiều cách phát âm đọc khác vì nhiều lý do khác nhau. Chưa nói đến một chữ, từ, cùng âm, cùng cách viết nhưng khác nghĩa tùy ngử cảnh và văn cảnh. Bản chất ngôn ngữ văn tự đều có chung một giới hạn VÀ BẤT TOÀN NÀY! Thí dụ như tiếng Việt “huỳnh” và “hoàng”, “vũ” “võ” v.v. Theo thói quen thành lệ khi nói đến “chính trị” thì cách viết 政 được dùng thay cho 正.

Advertisements