Vừa qua nhân dịp hội luận bù khú trong Hội Quán Nhân Chủ, nhiều vấn đề được quí anh chị tham dự đưa ra, trong đó gồm có vấn đề “ngôn ngữ Việt Nam vấn đề Hán Việt”, chuyện nguyên lý kinh tế tư bản, hệ thống tài chính hiện tại và tương lai, và “bản sắc dân tộc” lại được đem ra mổ xẻ.

Thú thật cho đến bây giờ, ở năm 2012, mà Tôi vẫn không định hình được cái gọi là “bản sắc dân tộc” nó là cái gì? Mà thôi, để trả lời câu hỏi “bản sắc đậm đà dân tộc” lá cái khí gió gì, Tôi xin đi từ bước nhỏ ở những nét “đặc biệt”, “truyền thống” “di sản đặc thù của “tổ tiên” người Việt trước.

Âm Hán Việt hay Tiếng Hán Việt: Trình Độ Sáng Tạo của Tổ Tiên giống dòi Ta

Lãnh vực “ngôn ngữ Việt Nam và vấn đề Hán Việt” dễ giải quyết, bởi nó định nghĩa được, và nắm bắt được bằng vấn nạn ngay trước mặt của những người Việt Nam hôm nay còn đang sử dụng tiếng Việt (ngôn ngữ văn tự) làm phương tiện trao đổi thông tin nền tảng hàng ngày. Nhất là sinh viên học sinh Việt Nam đang phải nuốt cái kho tàng văn học sử liệu “đậm đà bản sắc” quái đản của “tổ tiên thông minh trí tuệ” để lại cho họ. Mà theo tuyên truyền giáo dục rằng nếu người Việt Nam mà không hiểu biết đến bảo tồn những “di sản đậm đà bản sắc này”, thì không thể “nhớn thành người” được! Tức là có khả năng chúng ta 101% sẽ thành quái vật hay “ngoại súc” (alien) !!!
Để ngắn gọn lại, chúng ta hãy cố đọc lại hai áng văn được coi là vĩ đại và quan trọng của cả lịch  sử dân tộc rồng tiên – và hình dung ra bối cảnh khi nó được ra đời. Thứ nhất, đó là Chiếu chỉ ban lệnh về việc dời kinh đô từ Hoa Lư vào Thăng Long (Hà Nội) của tên vua “con hoang và con lai Tầu” Lý Công Uẩn:

“Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?”

Đấy, độc giả nào chưa từng đọc qua bản dịch ra tiếng Nôm, chữ quốc ngữ đang dùng hiện nay, ráng mà truy tìm trên mạng để hiểu.. Như vậy các bạn mới tạm thấu hiểu và thâm cảm được “nỗi khổ” của quần chúng Việt Nam vào thời điểm đó, khi mà đại đa số mù chữ Hán, và chỉ được nghe các ông nho sĩ, ông đồ sang sảng đọc lên cái thứ tiếng lạ lùng quái đản, thằng Tầu nghe cũng không hiểu, mà dân Việt ta nghe cũng… điếc đặc- như đại đa số chúng ta bây giờ- nếu không được “dịch ra tiếng Việt”.  Và nhất là khi các “đại quan” trình sớ lên Vua, nếu chỉ nghe đọc sớ mà không nhìn được mặt chữ Hán ra sao.. thì ngay chính tên Vua và các tên quan cũng “hiểu chết liền”.. Đó gọi là “ÂM hay TIẾNG  HÁN VIỆT” đó các bạn ạ.!!!

Nó cũng giống cái lối phiên âm của Tầu để đọc tiếng Tây như “Mạnh Đức Tư Cựu”, Pháp nó mà hiểu, địa cầu vỡ liền.. Hoặc như các đồng chí ta phiên âm tiếng Anh như  “Ớt Trậy Li A” vậy. Bọn Úc nó cũng trợn mắt!

Vì vậy mới có giai thoại nhà đại học giả nho chùm Lê Quí Đôn bị một ông “nho chua láu cá vặt”  chơi khăm tiếng Hán Việt chữ “Tri”…

Theo bố Tôi kể lại, dĩ nhiên đã là “giai thoại”  nghĩa là được kể chuyền qua cửa miệng mọi người, thì  chi tiết kể mỗi người mỗi khác, các bạn có thể đọc ở đâu đó hơi khác đi chút, nhưng đại ý vẫn là một.


” Nhân ngày tang lễ bố Lê Quí Đôn, có một ông tự xưng là bạn của người vừa khuất đến xin người chủ nhà đang chịu tang giỏi chữ là Lê Quí Đôn viết một câu để phúng điếu. Lê Quí Đôn mài mực, chấm bút chờ. Ông “nho thổ tả” này, đọc lên “chi”, rồi lại “chi”. Lê Quí Đôn đứng chờ cho đủ câu để đoán ý mới viết được.

Nhưng ông già oái oăm này không đọc hết một câu, mà cứ đọc một chữ “chi” rồi ngừng lại, rồi lại đọc tiếp “chi”, khiến Lê Quí Đôn không thể hồ đồ đặt bút viết được. Vì âm Việt của một chữ Hán có rất nhiều từ viết khác nhau và nghĩa cũng khác nhau. Nhất là âm “chi” mà đọc theo lối các ông nho Bắc kỳ ngọng thì bao gồm cả “tri” và “chi”, lại càng nhiều hơn nữa. Thế là thằng cha láu cá nho chua thổ tả này, lăn đùng ra chiếu khóc mỉa xéo Lê Qúi  Đôn:
“Ôi ông bạn tôi ơi, Tôi đến kính viếng ông, nghe nói con ông là bậc uyên bác, thế mà lời điếu của tôi,  Tri chi hồ? Tri chi vi Tri chi, bất Tri vi Bất tri. thị Tri, anh ấy cũng không viết được, Thế thì bất hạnh quá”…


Cũng theo “ông Bố Nho Sĩ cuối cùng” của Tôi, có lẽ Lê Quí Đôn hiểu ra cái đểu cáng của thằng cha này, không muốn nó phá bĩnh cuộc tang lễ nghiêm trang của bố mình, nên đã vội vái xin lỗi “người trưởng thượng” cho êm chuyện.”

Riêng Tôi nhận định rằng thằng cha già “nho thổ tả” kia, thể hiện đúng cái tính vặt vãnh láu cá của người Việt thấp kém, đất  Bắc vùng Thái Bình. Chỉ vì ghen ăn tức ở với danh vọng và chức vụ của Lê Quí Đôn mà chơi khăm. Chứ nếu hắn cứ nhẩn nha đọc hết nguyên cả câu “Tri chi dĩ vi tri. Bất tri dĩ vi bất tri. Thị tri”, dù ngay cả với giọng Bắc kỳ không đọc rõ được âm “TR” , thì Lê Quí Đôn với khả năng uyên bác tứ thư ngũ kinh cũng đoán ra và viết được. Vì nó là câu nói nổi tiếng nằm trong Luận Ngữ, lời của Khổng Tử,  chương 2 -Vi Chính, Tiết 17 :

Tiết 2:17 *【二之十七】子曰:「由,誨女知之乎!知之為知之,不知為不知,是知也
Tử viết: Do! Hối nhữ Tri chi hồ? Tri chi vi Tri chi, bất Tri vi Bất tri. thị Tri dã.
Khổng tử nói: Này anh Do! muốn ta dạy thế nào là hiểu biết thật chăng? Điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết,như vậy mới là hiểu biết thật.

Ngay một kẻ dốt như Tôi đây, chỉ vì ham bốc phét, cũng thuộc lõm bõm một chút, mà gợi ý “đúng tủ” là đoán ra ngay- dĩ nhiên là phải đúng tủ- chứ không trúng tủ thì cũng đành chịu- hay bất cứ quí vị nào đã từng đọc qua Luận Ngữ  là có thể đoán được ngay với điều kiện phải được nghe đầy đủ hết cả câu này.

Tôi nói là “đoán”, vì câu văn có điển tích nguyên bản lời của nhân vật nổi tiếng nhất trong làng chữ Hán- ông già Khổng Tử-  mà bất cứ ai học “nho”, từ người Tầu, Việt, Hàn, Nhật, kể cả Tây, Mỹ như Henry David Thoreau v.v đều đọc và biết qua, nên dễ nhận ra; như chúng ta hôm nay hay nhắc “danh ngôn” chỉ cần nửa câu đã biết được của ai nguyên văn ra sao rồi, dĩ nhiên là đã phải biết qua, đã đọc đến.

Chứ nếu là văn xuôi, trong truyện hoặc trong văn chiếu biểu, thì có uyên bác như Lê Quí Đôn hay bất cứ ai cũng phải nhìn vào mặt chữ mới hiểu hết và viết cho đúng được. Chưa nói việc chữ Hán mà viết theo “ngữ pháp” của đám Việt Nho nếu chưa từng du học “Thiên Triều”,  thì lắm lúc người Tầu nó đọc nó cũng bật ngửa, gãi đầu, như giai thoại cụ Phan Bội Châu bút đàm với nhà cách mạng Tầu Lương Khải Siêu chẳng hạn, và Lương Khải Siêu cũng đôi lúc nhăn mặt mà đoán ý.

Chẳng khác các ông “học sĩ” ta hôm nay học Anh Văn ở trong nước mà không thực tập đầy đủ hay tham khảo nhiều với người bản xứ Anh văn hoặc kể cả những người gốc Việt ở xứ tiếng Anh, như Tôi, khi viết Anh ngữ mà không dò xét đi dò xét lại năm bẩy lần, thì Mỹ, Úc nó đọc, nó cũng phải gãi đầu để đoán ý. Hoặc như một thằng Anh Mỹ nào đó học tiếng Việt của thầy “Hà Lội CHXHCN”, rồi viết ra, thì có lẽ ngay như Tôi, chắc cũng phải gãi đầu để đoán mò; như hiện nay tôi cứ phải đoán mò khi bị buộc phải đọc văn bản báo chí trong nước Việt Nam vậy. Vì nó đầy những “kịch bản, búc xúc, hoành tráng, tuồi teen, động thái, phần cứng của anh ứng với phần mềm của em v.v” cứ loạn xạ cả lên, lập đi lập lại, cho ra vẻ “hàn lâm”. Mà thật ra chẳng có “hàn” mà đưa độc giả “lâm” vào tình thế gãi đầu.

Vấn đề chính là cái “giai thoại” thổ tả này, vẫn được kể lại một cách tự hào, vừa bừa bãi, vừa  vô ý thức của giới chữ nghĩa Việt Nam. Không ai có nỗ lực giúp người nghe ở thế hệ chúng ta chất vấn, phân tích những giai thoại loại vớ vỉn kiểu như trên, để họ rút tỉa ra được những sai lầm phi lý, như cái “láu cá vặt vãnh” của thẳng cha “nho thổ tả” kia.  Và quan trọng hơn hết, là chỉ ra sự thất bại trí tuệ của cả một dân tộc trong cái phương cách quái đản sử dụng chữ Hán làm quốc ngữ “Hán Việt” của xã hội Việt Nam đã kéo dài cả mấy ngàn năm.

“ĐẠI CÔNG TRÌNH CHỮ NÔM”

Sự thất bại trí tuệ của cả giới “khoa bảng” dân tộc, sau này còn được thể hiện rõ ràng trong nhu cầu và phương cách hình thành “chữ Nôm”, một tính cách láu cá và nọa tính của giới biết chữ Hán người Việt. Nó không thể bì kịp được với nhu cầu và phương cách hình thành lối viết chữ Kana,(Hiragana, và  Katakana) , dù chưa toàn bích, của Nhật, và càng không thể bì được với chữ Hangul khoa học và chặt chẽ sáng sủa của Đại Hàn qua nhu cầu và phương cách hình thành của nó. Cách đây mấy năm, khi trao đổi với một bạn trẻ ái quần tự hào bản sắc, Tôi đã có giải thích rõ:

“… Và nói thêm để bạn “tự hào bản sắc dân tộc”. Chữ Nôm mà Nguyễn Du dùng để trước tác câu chuyện Kiều, là một “công trình” thể hiện rõ “bản sắc ” của những người tạo ra nó: tính chất vừa láu cá vặt, vừa lười biếng, không có kiến thức căn bản về ngôn ngữ văn tự , nhất là văn tự ký âm.

Các ông “tổ tiên” hay “tiền nhân” biết chữ Hán của bạn, vì dư giờ “nhàn tản” muốn viết lách phóng túng trong lúc trà dư tũu hậu, không muốn dùng chữ “Hán” của “thánh hiền cao sang”, mới xếp các từ Hán vào để mà đọc , hay phát âm tiếng Việt. Họ dùng như trò chơi “bù khú” ghi nhận những ý nghĩ “nôm na mách qué” tự nhiên của họ, “đọc” trao đổi rộng hơn với quần chúng , mà không bị gò bó vào văn chữ Hán- quá ít người biết đến.

Chữ Nôm- nó vừa tối dạ không theo nguyên tắc hệ thống gì. Dân đã không biết chữ Hán, mà muốn đọc bản chữ Nôm của các “tổ tiên” này, không chỉ phải học chữ Hán, còn phải học cách đoán mò, như chữ “tử”, chữ Hán, chỗ nào thì đọc là “Con” , chỗ nào thì phải đọc là “cơn”. Điểm này dù hết là “người Việt” theo định nghĩa “quốc gia dân tộc”, Tôi vẫn cứ rất “tự hào” vì nghĩ rằng, nếu có một cái gì gọi là “bản sắc” thì đây mới chính là “bản sắc Việt”!!!

 

Nếu như dư giờ rổi hơi, bạn thử tìm hiểu quá trình hình thành và phương pháp cấu trúc ký âm chữ Hangul của người Hàn, bạn trẻ sẽ thấy được “bản sắc” Hàn quốc. (thật ra cũng chẳng phải “bản sắc” Hàn héo gì đâu, chỉ là do một nhóm trí thức người Hàn và ông vua thông minh Thế Tông thôi. Cho nên ngay sau đó, nó bị chế độ phong kiến con cháu và các trí thức “Hán học” Hàn quốc, xúi toàn thể dân Hàn chê, chối bỏ, không dùng, còn chê bai gọi nó là “chữ mách qué” (eonmun) như ở Việt nam, giới khoa bảng chữ Hán, từng gọi chữ Nôm của họ tác tạo ra là “Nôm Na Mách Qué” vậy-

Quang Trung muốn dùng chữ Nôm làm quốc ngữ- nhưng cũng bị giới khoa bảng đại gia quí tộc chống đối- Nên sau Tây Sơn, chữ Hán Việt lại là quốc ngữ- chữ Nôm lại trở về làm trò chơi văn chương nhàn tản như đi chơi “cô đầu hát ả đào”. Cả dân tộc Hàn, như dân Việt, tiếp tục dùng chữ Tầu làm “quốc ngữ” cho đến thời cận đại, khi bị Nhật nó đánh cho bờ đầu đô hộ- cần hô hào ái quốc tổ cò, lúc đó dân Hàn mở mắt bớt ngu, thông minh hơn hiểu ra giá trị của nó, mới dùng nó làm Văn Tự Quốc Ngữ như bây giờ)…” Trích từ “BẢN SẮC DÂN TỘC” là cái Khí Gió Gì? NKPTC

Bằng chứng “tuyệt hảo” của trí tuệ NÔM NA MÁCH QUÉ, vài thí dụ điển hình:

1-  từ Nôm là lấy từ chữ  Hán (Nam, phía nam, thêm chữ khẩu (là miệng) để nhắc người đọc phải phát âm trại đi từ NAM thành  “NÔM“!
2- từ Hán (nữ)  được xếp trong mạch văn để dựa vào chữ đi trước mà đoán ra là “nữa”, vì âm  hán NỮ và âm nôm NỮA đọc “na ná” nhau”!!! Nghĩa là lấy nguyên từ Hán và phải đoán mò ý để mà đọc và hiểu là NỮA!  Gọi là “giả tá”
3- Từ nôm VUI 𢝙, vui vẻ – là do ghép  từ  Hán “Tâm” để gợi ý cảm tính với từ Bôi (cốc chén)  để mượn âm “Bôi” vì âm Bôi đọc “na ná” như  âm VUI để tạo thành chữ nôm VUI 𢝙
4-  Từ nôm LÒNG   𢚸  được viết ghép  từ 2 chữ Hán, Tâm ở dưới đề lấy ý là cảm tính, và chữ LUỒNG ở trên để lấy âm đọc “na ná” như LÒNG 𢚸  (luồng+tâm) = lòng!

5- Từ nôm 𤾓 (trăm) được hình thành theo “luật ghép âm na ná” từ chữ Hán “Bách” để lấy Ý (100) cộng vối chữ  “lâm= rừng”, vì âm LÂM đọc “na ná” như TRĂM!

Mẹ tiên sư! Thật là một hệ thống phương pháp thuyệt vời thông minh trí tuệ ! Gọi là hệ thống “phát âm ĐOÁN MÒ NA NÁ đậu phọng đỏ”!!!

 

Sự kiện nhà khoa bảng Hán học cừ khôi Phan Bội Châu khi gặp Lương Khải Siêu đã phải “bút đàm” mà không thể trao đổi bằng lời nói được vì Phan Bội Châu mà mở miệng sử dụng “tiếng quốc ngữ  Hán Việt” của “chúng ta” ra, một sáng tạo độc đáo đậm đà bản sắc của Việt Nam, thì ngay vua quan sĩ phu Việt còn không hiểu chứ nói gì Lương Khải Siêu, một người chính hiệu tầu Hán 100% .

Cũng giống như cụ thân sinh tôi, lúc sinh tiền, giỏi chữ Nho, thông tiếng Pháp, và trôi chảy đọc viết tiếng Anh.. Nhưng đến khi gặp nhân viên truyền giáo Mỹ ghé thăm nhà, Bố tôi cũng đã phải “bút đàm” với đám truyền giáo này. Đơn giản, bố tôi phát âm tiếng Anh theo “kiểu riêng” của cụ, mà không chỉ đăm truyền giáo Mỹ, kể cả ông anh giáo sư Anh Văn từng làm việc trong USAID cũng không thèm hiểu luôn.

Thế mới thấy được trí tuệ của tổ tiên ta về mặt ngôn ngữ văn tự!  Và rõ ràng một cách nào đó, thứ “tiếng Hán Việt” đó, nó phải cưu mang một nét “bản sắc đậm đà dân tộc” phải không quí bạn đọc!

Để tạm kết nhận định về  “bản sắc Việt” thể hiện trong ngôn ngữ văn tự này, xin quí độc giả tự “đọc” cho chính mình nghe áng văn thứ hai, được coi là hùng tráng vĩ tuyệt của toàn bộ lịch sử dân Việt, được viết bằng chữ Hán. Ai chưa có cơ hội đọc bản dịch ra tiếng Nôm và chữ Quốc Ngữ, khi đọc bản “âm Hán Việt” này chắc chắn sẽ thấu hiểu” nỗi đau” của quần chúng Đại Việt! Kể cá các con giời biết chữ Hán nếu mà chưa đọc qua bản chính chữ Hán một lần, chỉ “nghe” âm Hán Việt này cũng đành chịu mà đoán mò đoán mẫm mà thôi.. Còn thằng Hán rặt chắc chắn sẽ trợn mắt, dù bản văn này viết bằng văn tự của nó nhưng được đọc theo kiểu riêng của “tổ tiên ta”!

“Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết.
Cái văn:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo.
Duy, ngã Đại Việt chi quốc,
Thật vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực kí thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.
Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
Nhi Triệu Tiết hảo đại dĩ xúc vong.
Toa Đô kí cầm ư Hàm Tử quan,
Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.
…….

Đọc mà không có bản nguyên văn Hán tự hoặc bản dịch ra quốc ngữ – hiểu chết liền!

NKPTC

Tham Khảo Thêm:

Trao Đổi  Về Văn Hóa “BẢN SẮC DÂN TỘC” là cái Khí Gió Gì? NKPTC

Một phần bản Nôm truyện Kiều có phiên âm quốc ngữ

𤾓𢆥𥪞揆𠊛些
1 Trăm năm trong cõi người ta.
𡦂才𡦂命窖󰑼恄饒
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
𣦆戈没局𣷭橷
Trải qua một cuộc bể dâu,
仍調𬖉𧡊㐌𤴬疸𢚸
Những điều trông thấy đã đau đớn lòng.
𨔍之彼嗇斯豊
5 Lạ gì bỉ sắc tư phong,
𡗶撑涓貝𦟐紅打㭴
Trời xanh quen với má hồng đánh ghen.
稿𦹳吝󰇾𠓀畑
Cảo thơm lần giở trước đèn,
風情固錄群傳史撑
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
浪𢆥󰞸靖朝明
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
𦊚方𪹚𣼽𠄩京凭鐄
10 Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
固茹員外户王
Có nhà viên ngoại họ Vương,
家資擬拱常常堛中
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung.
没𤳆𡥵次卒𢚸
Một trai con thứ rốt lòng,
王󰞹󰑼𡦂綏𣳔儒家
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
頭𢚸𠄩妸素娥
15 Đầu lòng hai ả tố nga.
翠翹󰑼姉㛪󰑼翠雲
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
枚骨格雪精神
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
没𠊛没𨤔𨑮分院𨑮
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
雲󰏙莊重恪潙
Vân xem trang trọng khác vời,
囷𦝄苔惮󰞺𧍋𦬑囊
20 Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
花唭玉説端莊
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
𩄲輸渃𩯀雪讓牟䏧
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
翹強色稍漫𣻕
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
搊皮才色吏󰑼分欣
So bề tài sắc lại là phần hơn.

泑泑覩祿拸核
Ào ào đổ lộc đưa cây,
於𥪝羕固香𠖤𠃣𡗉
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
提澄𦰟󰊄吝蹺
Đè chừng ngọn gió lần theo,
𨁪𩌂曾𨀈󰷳印停停
Dấu giày từng bước rêu in rành rành.
𩈘𥆾埃乃調驚
125 Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
娘浪尼寔精誠𫽄賒
Nàng rằng: “Này thực tinh thành chẳng xa.
有情些吏﨤些
Hữu tình ta lại gặp ta,
𫽄泥幽顯賀󰑼姉㛪
Chẳng nề u hiển, mới là chị em.”
㐌弄顯現朱󰏙
Đã lòng hiển hiện cho xem,
謝𢚸娘吏綏添𢽼𠳒
130 Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
𢚸䜹淶󰟃𥟍徊
Lòng thơ lai láng bồi hồi,
㭲核吏拍没排古詩
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
用浪姅於姅𧗱
Dùng dằng nửa ở nửa về,
楽鐄兜㐌㗂𦖑𧵆𧵆
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
𬖉澄𧡊没文人
135 Trông chừng thấy một văn nhân,
弄𢶻𢬣叩𨀈吝𨤮冰
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
提𢹂𦝄襊󰊄𦝄
Đề huề lưng túi gió trăng,
𡢐蹎蹺󰜋𠄽繩𡥵𡥵
Sau chân theo một vài thằng con con.
雪印色馭󰙃𤵊
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
𦹵坡味襖染𡽫䏧𡗶
140 Cỏ pha [màu/mùi] áo nhuộm non da trời.
裊賒買𤏣𩈘𠊛
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
客陀𬺗馭細尼敘情
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình.
鞋文吝𨀈𨤮撑
Hài văn lần bước dặm xanh,
没漨如体核󰔂梗瑤
Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao.

Advertisements