Paul Craig Roberts

Người Mỹ nghĩ rằng họ có “Tự Do Dân Chủ” và các chính trị gia của họ rất có trách nhiệm vì được chính họ bầu ra từ những cuộc bầu cử.  Nhưng thực tế của vấn đề là nước Mỹ bị cai trị bởi những nhóm quyền lợi  và nhóm người này kiểm soát điều khiển các chính trị gia qua những số tiền kếch xù họ đóng góp vào qũy vận động bầu cử của các chính trị gia đó.  Những kẻ cai trị chúng ta thực sự là những thằng đầu sỏ về tài chánh, về ngành an ninh- quân đội, và AIPAC, một  tổ chức hoạt động ảnh hưởng mạnh mẽ vào chính sách ngoại giao cùa Mỹ với mục đích vì lợi ích cho Do Thái.

Bài của Paul Craig Roberts do Đông Sơn phóng dịch
 “Chẳng bao lâu nữa, sẽ không có  thành phần trung lưu ở giữa nào nữa.  Chúng ta sẽ chỉ có một số ít, rấy ít, là lãnh chúa, và tất cả còn lại là lũ ăn mày”  R L Brushman.
“Rất nhanh chóng qúy vị sẽ bị chia ra làm hai giai cấp.  Giai cấp cực kỳ giầu có và giai cấp cực kỳ nghèo khổ”.  Brutus.
Hãy xem xét chính sách kinh tế của Mỹ.  Nó đang được thực hiện vì lợi ích cho những nhu cầu tài chánh lớn như công ty tài chánh Goldman Sachs. Đâu phải hàng triệu những người dân Mỹ mất nhà, mất việc làm, mất bảo hiểm y tế, mất tiền giành dụm hưu trí được giúp đỡ, mà chính đám ngân hàng đã nhận được số tiền $700 tỉ đô la tài trợ từ ngân sách quốc gia gọi là tắt là TARP (Troubled Asset Relief Program). Bọn đại ngân hàng dùng món quà vốn liếng tài chánh này đễ tạo ra thêm nhiều lợi nhuận nữa.  Giữa cơn suy xụp kinh tế tồi tệ nhất  từ sau thời Đại Khủng Hoảng Kinh Tế của thập niên 1930s’,  công ty tài chánh Goldman Sachs lại  tuyên bố thành tích lợi nhuậu phá kỷ lục cho tam cá nguyệt thứ nhì trong năm 2009 và mỗi một nhân viên của công ty được tiền thưởng cả triêu bạc.
Chính sách lãi xuất thấp của Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang là một món qùa khác nữa cho bọn đại ngân hàng.  Nó giúp giảm chi phí cho các ngân qũy hoạt động của bọn đại bản ngân hàng và do đó tăng lợi nhuận cho bọn chúng.  Với việc bãi bõ đạo luật Glass-Steagall năm 1999 (* Đạo luật Glass-Steagall do Đảng Dân Chủ  soạn thảo đề xướng và thông qua từ năm 1932 vì  một vụ khùng hoảng tài chính lúc đó; Đạo Luật thứ hai cùng tên, bổ xung năm 1933, Hai đạo luật này  ngăn chặn gian lận quyền lợi, nhập nhằng tài chính giữa các thể loại ngân hàng, cơ sở tài chính, -đầu tư, cho vay , tiết kiệm v.v – bằng cách phân loại các ngân hàng, công ty tài chính  rõ rệt theo chức năng, và phải hoạt động theo điều lệ ..Nhưng đến năm 1999, đảng Cộng Hòa dùng đa số phiếu Quốc Hội để bãi bỏ đạo luật này bằng một đạo luật khác tên là Gramm-Leach-Bliley Act (GLBA), (Financial Services Modernization Act)- trong đó cho phép các ngân hàng, công ty tài chính trở lại tự do thao túng không ràng buộc) bọn đại ngân hàng trở thành những nhóm đầu tư mạo hiểm táo bạo trong những cuộc trao đổi buôn bán tài chánh chứng khoán, giấy nợ.  Với nguồn tiền vốn thừa thãi được cung cấp cho vay, gần như miễn phí từ Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, bọn đại ngân hàng trả lãi xuất cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm thật thấp, rất thấp gần như không có gì.
 Mạc dù có  chính sách hạ lãi xuất của Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, vậy mà khởi đầu từ 1 tây tháng 10 bọn đại ngân hàng lại tăng lãi xuất lên, đánh vào đám dân tiêu thụ dùng thẻ tín dụng để chi tiêu, vay mượn tiền.  Những khẩu tiền phạt vì trả nợ trễ hẹn tín dụng hàng tháng, cũng tăng.  Giữa cuộc khủng hoảng kinh tế tệ hại chưa từng thấy kể từ những thập niên 1930, mà những con dân Mỹ đang mắc nợ trầm trọng và đang mất việc, mất nhà, lại bị bóc lột để đến bị phá sản bỡi chính bọn đại ngân hàng đang được tài trợ do ngân qũy quốc gia TARP với lãi xuất thật thấp.
Hơn nữa, chính người dân, công chúng Mỹ đang phải gánh chịu trách nhiệm cho qũy tài trợ TARP và lãi xuất thấp.  Với cái ngân sách 50% thâm thụt của Mỹ, tiền cho qũy tài trợ TARP phải vay mượn từ nước ngoài hoặc vay mượn  hóa giá với Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang.  Sự việc này có nghĩa là sẽ gây thêm áp lực vào giá trị hối đoái của đồng đôla, rồi tác động vào sự gia tăng giá nhập khẩu và mức lạm phát trong nước.
Như vậy, quần chúng Mỹ sẽ phài đài thọ cho quỹ TARP và việc tài trợ lãi xuất thấp cho bọn đầu sỏ tài chánh bằng sự mất giá của đồng Đôla.  Những gì chúng ta đang đương đầu chính là sự tái phân phối khổng lồ mức thu nhập từ công chúng lao động Mỹ chuyển qua cho bọn thiểu số nghành tài chánh Mỹ.
Và sự cố này xẩy ra dưới sự điều hành của đảng Dân Chủ do một tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ  lãnh đạo với đảng Dân Chủ nắm đa số ở Hạ Viện và Thượng Viện.
Còn có một chính quyền nào trên qủa địa cầu này phục vụ người dân KÉM hơn cái chính quyền Mỹ này không?
Hãy xét những cuộc chiến tranh của Mỹ.  Trong khi tôi đang viết bài này, thì số tiền móc-ra-từ-túi phải chi cho chiến tranh ở Irắc và A Phú Hản là $900 tỉ.  Khi quí  vị cộng thêm chi phí lợi ích cho cựu quân nhân phài chi trong tương lai, lãi xuất cho số nợ, mất mát cơ hội dùng  nguồn tài nguyên cho những mục tiêu ich lợi khác, và những chi phí khác được tính toán bởi nhà kinh tế gia đoạt giải Nobel ông Joseph Stiglitz và chuyên gia Ngân Sách đại học Harvard bà Linda Bilmes thì chính phủ Mỹ đã lãng phí $3,000,000,000,000.00 – ba  ngàn tỉ đôla trong 2 cuộc chiến tranh, mà không đem được một lợi ích gì cho bất cứ một người dân Mỹ nào mà thu nhập của họ không đến  từ các cơ sở chế tạo sản phẩm phục vụ cho ngành an ninh quân đội mang danh Liên Hiệp Kỹ  Nghệ An Ninh-Quân Sự, mà  tổng thống Eisenhower, từng là tướng 5 sao, đã cảnh cáo chúng ta.  
Ngày nay sự việc chính nó đã chứng minh rõ rệt rằng chính quyền Mỹ đã dối trá và lừa bịp quần chúng Mỹ đễ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước Irắc.  Mà những kẻ được lợi nhuận chỉ là những công ty vũ trang quân sự tư nhân, Blackwater, Halliburton, những sĩ quan đạt được thăng thưởng cao trong  chiến tranh.  Và những người Hồi giáo quá khích do chính nhà nưóc Mỹ cố ý gây hấn, chống phá tín đồ Hồi giáo đẻ ra. Không một ai khác hưởng lợi ích gì.  Đất nước Irắc không đe dọa một ai, và việc đi truy lùng Sađdam Hussein, rồi treo cổ hắn sau một phiên toà luật rừng, chẳng có một tác động hửu ích gì cho việc chấm dứt  cuộc chiến tranh này hay ngăn cản được những cuộc chiến tranh khác.
Cái giá chi phí cho những cuộc chiến tranh Mỹ là cả một gánh nặng lớn lên một nước Mỹ đang phá sản, nhưng chi phí cho hậu qủa của người cựu quân nhân Mỹ sẽ gánh chịu thậm chí còn cao hơn nữa.  Vô gia cư là một tình trạng phổ biến của các cựu chiến binh, và thêm nữa bệnh chấn thương tinh thần sau những cuộc tác chiến tàn bao.
Những người quân nhân Mỹ ngu ngơ chiến đấu cho lợi nhuận của các công ty chế tạo, sản xuất đạn dược, vũ khí; lợi nhuận cho những thằng giám đốc chóp bu và lợi nhuận cho các chủ nhân cổ phần trong các công ty này. Cái gía họ phải trả không chỉ là sinh mạng của chính họ hay thân thể tàn tật mà còn là hôn nhân, gia đình tan vỡ, sự nghiệp hũy hoại, tâm thần rối loạn, và án tù vì không trả  nổi tiền nuôi dưỡng con cái (khi li dị).
Người Mỹ đã đạt được gì từ một cuộc chiến tranh phí tổn quá khả năng ở Irắc, mà đến nay đã kéo dài lâu hơn Đệ Nhị Thế Chiến, và đưa nhóm Shi’ites đang liên minh với Ba Tư lên nắm quyền?
Câu trả lời hiển nhiên là: không có bất cứ điều gì.
Còn bọn công ty kỹ nghệ vũ khí đạt được gì?  Hàng tỉ đôla lợi nhuận
Còn tổng thống Obama thì sao? Chỉ là “Một tác tạo tiếp thị của Tập Đoàn Đại Bản”nhà báo lỗi lạc Anh quốc, John Pilger tóm gọn như vậy.
Obama là ứng cử viên tổng thống đã hứa chấm dứt chiến tranh ở Irắc. Hắn vẫn chưa làm xong, mà lại tăng cường độ chiến tranh ở A Phú Hản, và bắt đầu một cuộc chiến mới ở Pakistan.  Obama dự định tái diễn lại đoạn kịch Nam Tư tại Caucasus, và lòi ra quyết tâm khởi chiến ở Nam Mỹ.  Để đối phó với sự chấp thuận của tổng thống Columbia bù nhìn, tay sai Mỹ, Alvaro Uribe, cho Mỹ thiếp lập 7 căn cứ quân sự tại Columbia, nước Venezula cảnh báo các quốc gia vùng Nam Mỹ rằng: “ những cơn gió chiến tranh đang bắt đầu nổi lên”
Còn ở đây chúng ta có một chính quyền hoàn toàn phụ thuộc vào lòng hảo tâm của các nước ngoài tài trợ cho mức thâm thủng ngân sách quốc gia, mà khối lượng ngày càng tăng ai cũng có thể nhìn thấy, và hoàn toàn nằm dưới sự điều khiển của bọn tập đoàn kỹ nghệ quân sự/an ninh, bọn này sẽ hũy hoại tất cà chúng ta để đáp ứng tham vọng lợi nhuận của các chù nhân cổ phấn trong Thị Trường Chứng Khoán.
Tại sao bất cứ người Mỹ nào lại phải đi quan tâm đến việc ai là ngưòi cai trị A Phú Hản?  Một quốc gia chẳng động chạm gì đến chúng ta cả.
Cái ủy ban vũ trang quân vụ của Quốc Hội có tính toán đến sự nguy hiểm khi gây bất ổn một quốc gia có vũ khí nguyên tử Pakistan hay không, khi họ ưng thuận để cho Obama gây một cuộc chiến tranh mới ở Pakistan, một cuộc chiến tranh đã khiến 2 triệu người dân Pakistan tản cư lưu lạc?  Không, tất nhiên không.  Bọn đĩ điếm (chnh trị gia ở quốc hội) đã nhận những lệnh lạc, đơn hàng từ chính cùng một bọn đầu sỏ tập đoàn kỹ nghệ quân sự/an ninh đang sai khiến tên Obama.
Cái siêu cường quốc vĩ đại Mỹ và 300 triệu dân Mỹ đang bị đẩy đến ngã gục bởi quyền lợi hẹp hòi cùa bọn đầu sỏ tài chánh và đầu sỏ kỹ nghệ quân sự.  Mọi nguòi, không chỉ là ngưòi Mỹ, đang mất con, mất chồng, mất anh, mất em, mất cha… chẳng vì lý do nào khác hơn ngoài lợi nhuận của bọn tập đoàn kỹ nghệ vũ khí Mỹ, mà người Mỹ cả tin dường như lại tự hào về những mất mát đó qua các tấm băng họ dán , vẽ, trạm lên đủ loại xe to nhỏ của họ, để tuyên xưng lòng trung thành ấu trĩ của họ đối với các tập đoàn kỹ nghệ vũ khí, và những bọn đĩ điếm (trong cái nhà thổ Quốc Hội, tòa Bạch Ốc) ở Hoa Thình Đốn, những kẻ đang thúc đẩy chiến tranh.
Liệu người Mỹ đã bị nghiền nát, bị hủy hoại vì những chính sách đang áp dụng bởi chính quyền Mỹ “của họ” mà luôn bỏ người dân Mỹ xuống tận sau cùng, có bao giờ hiểu ra kẻ thù thực sự của họ là ai không?
Liệu người dân Mỹ có nhận ra đuợc rằng họ không phải được phục vụ bởi các chính trị gia do họ bầu ra mà là đang bị cai trị bởi một bọn đầu sỏ chính trị thiểu số, chủ nhân của cái Nhà Thổ ở Hoa Thịnh Đốn?
Người dân Mỹ có hiểu ra rằng họ là những nông nô bất lực hay không?
Advertisements